vanban.org

Bản án 63/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung

năm 2017); Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Minh T - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/2025/HS-ST

Ngày: 21/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Nay 2. Ông Võ Văn Thành. - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân Khu vực 4 - Đồng Nai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thạch Thảo, Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HS ngày 10/11/2025, đối với bị cáo: ĐÀO MINH TỚI, (Tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 17/12/1986; Nơi sinh: Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường X, tỉnh Đồng Nai). Nơi cư trú: khu phố S, phường S, thành phố L (nay là khu phố S, phường B), tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không có công việc ổn định; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Đào Văn T (đã chết) và con bà Ngô Thị Thu T1, sinh năm 1967 (còn sống); A, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh, em. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, em nhỏ nhất sinh năm 1992. Có vợ: Lê Thị Như Ý, sinh năm 1991 (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con, sinh năm 2012. Tiền án: Ngày 16/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 27/10/2024. Tiền sự: Không. Nhân thân:

- Ngày 25/12/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 18/01/2022. - Ngày 10/4/2025 bị Công an phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. - Ngày 18/7/2025 bị Công an xã X, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2025 đến nay. Có mặt. - Bị hại: 1. Bà Lưu Ngọc H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt. 2. Bà Đào Thị T2, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Tổ C, ấp F, xã X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt. 3. Ông Bùi Ngọc T3, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Tổ H, ấp H, xã X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Thu T1, sinh năm 1967. Nơi cư trú: khu phố S, phường B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đào Minh T4 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Để có tiền tiêu xài, T4 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/3/2025, T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Taurus, biển số 60T2-9048 đi đến khu vực vui chơi công cộng thuộc khu phố A, phường P, thành phố L (nay là khu phố B, phường L). Quan sát thấy khu vực này vắng vẻ, T4 trèo lên bờ tường dùng kéo cắt trộm 140m dây điện đơn, loại kích thước 2,5mm nối từ trụ sở khu phố A, phường P đến khu vui chơi công cộng, đoạn dây điện này do bà Lưu Ngọc H (trưởng khu phố) cùng những người dân trong khu phố đóng góp và giao cho bà H lắp đặt, quản lý. Sau đó, T4 chạy xe mô tô đến nghĩa địa Bảo Hòa đốt đoạn dây điện vừa trộm cắp được, lấy ruột dây bằng đồng và bán cho một người phụ nữ thu mua phế liệu dạo được 160.000 đồng, số tiền này T4 chi tiêu hết. Lần thứ hai: Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 13/7/2025, T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Boss, biển số 60U2-3573 đi đến khu vực vườn chuối của nhà bà Đào Thị T2, sinh năm 1971, thuộc tổ C, ấp F, xã X, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh, thấy trong vườn có dây điện, không có người trông coi nên T4 đã dùng kéo chuẩn bị sẵn cắt trộm 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm bên trong có 02 lõi ruột đồng loại 2x4.0mm, dài 23,7m gắn với máy bơm tại miệng giếng khoan ở đầu đường vào vườn. Sau đó, T4 tiếp tục đi

vào căn chòi trong vườn thấy có dây điện nên dùng kéo cắt thêm 01 đoạn dây điện màu xám, loại dây điện mềm, bên trong có 03 lõi ruột đồng loại 3x4.0mm, dài 4,8m. Sau khi cắt trộm xong 02 đoạn dây điện, T4 điều khiển xe mô tô đi đến ấp T, xã X, tỉnh Đồng Nai, tại đây thấy nhà ông Bùi Ngọc T3, sinh năm 1979, không có người trông coi, cổng nhà mở nên T4 lén lút đi vào nhà tìm tài sản để trộm cắp. Khi vào trong nhà, T4 thấy có 02 đường dây điện cố định trên tường, T4 dùng kéo cắt 01 đoạn dây diện màu đỏ, dây điện đôi loại 1.00mm, dài 12m và 01 đoạn dây điện màu xanh, dây điện đôi loại 2.00mm, dài 7,2m đều có nhãn hiệu Vĩnh Thịnh. Sau đó, T4 cất dây điện trên xe mô tô và điều khiển xe đi đến phường B, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an xã X phát hiện bắt giữ, tịch thu tang vật và xe mô tô. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/HĐ ĐG TSTTTHS ngày 14/5/2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố L kết luận: Đoạn dây điện đơn, loại kích thước 2,5mm, chiều dài 140.000mm, đã qua sử dụng (tương đương khối lượng 4,5kg, bao gồm phần kim loại đồng và nhựa bọc bên ngoài), thời điểm ngày 31/3/2025, có giá trị: 500.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 476/KL-HĐ ĐGTS ngày 30/9/2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai kết luận: - 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm, bên trong có 02 lõi ruột đồng loại 2x4.0mm, dài 23,7m (đã qua sử dụng), thời điểm ngày 13/7/2025 có giá trị: 214.000 đồng. - 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm bên trong có 03 lõi ruột đồng, loại 3x4.0mm, dài 4,8m (đã qua sử dụng), thời điểm ngày 13/7/2025, có giá trị: 62.000 đồng. - 01 đoạn dây điện màu đỏ, dây điện đôi loại 1.00mm, dài 12m, nhãn hiệu Vĩnh Thịnh (đã qua sử dụng), thời điểm ngày 13/7/2025 có giá trị: 47.000 đồng. - 01 đoạn dây điện màu xanh, dây điện đôi loại 2.00mm, dài 7,2m, nhãn hiệu Vĩnh Thịnh (đã qua sử dụng), thời điểm ngày 13/7/2025 có giá trị: 57.000 đồng. Vật chứng thu giữ và xử lý: - 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm, bên trong có 02 lõi ruột đồng loại 2x4.0mm, dài 23,7m và 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm, bên trong có 03 lõi ruột đồng loại 3x4.0mm, dài 4,8m, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho bà Đào Thị T2 là chủ sở hữu hợp pháp. - 01 đoạn dây diện màu đỏ, dây điện đôi loại 1.00mm, dài 12m và 01 đoạn dây diện màu xanh, dây điện đôi loại 2.00mm, dài 7,2m, có nhãn hiệu Vĩnh Thịnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông Bùi Ngọc T3 là chủ sở hữu hợp pháp. - 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát 60U2-3573, quá trình điều tra xác định bà Ngô Thị Thu T1 (mẹ ruột bị cáo T4) là chủ sở hữu hợp

pháp, bà T1 không biết T4 mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe cho bà T1. - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, màu xanh đen, biển kiểm soát 60T2-9048; 01 kéo sắt dài 20cm, phần cán có bọc ống nhựa màu đen và 01 kéo bằng kim loại, cán màu cam đen, là các công cụ, phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đồng Nai. Về bồi thường dân sự: Đại diện bị hại là bà Lưu Ngọc H, bà Đào Thị T2 và ông Bùi Ngọc T3 không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét, giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV4 ngày 20 tháng 10 năm 2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Đào Minh T4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo từ 14 (mười bốn) đến 18 (mười tám) tháng tù. Về dân sự: Các bị hại bà Lưu Ngọc H, bà Đào Thị T2 và ông Bùi Ngọc T3 không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: - Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, màu xanh đen, biển kiểm soát 60T2-9048 là phương tiện bị cáo T4 dùng để thực hiện hành vi phạm tội; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 kéo sắt dài 20cm, phần cán có bọc ống nhựa màu đen và 01 kéo bằng kim loại, cán màu cam đen, là các công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bị cáo không tham gia tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo mong Hội đồng xét xử đưa ra mức hình phạt phù hợp để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến gì. Như vậy, các hành vi,

quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. [2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận: Ngày 31/3/2025, tại Khu V, phường L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo sử dụng kéo chuẩn bị sẵn cắt trộm 140m dây điện đơn loại 2,5mm, trị giá 500.000 đồng, là tài sản do bà Lưu Ngọc H quản lý. Đến ngày 13/7/2025, bị cáo tiếp tục thực hiện hai lần trộm cắp: tại nhà bà Đào Thị T2 chiếm đoạt tổng cộng 28,5m dây điện các loại trị giá 276.000 đồng và tại nhà ông Bùi Ngọc T3 chiếm đoạt 19,2m dây điện trị giá 104.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong ngày 13/7/2025 là 380.000 đồng; tổng cộng toàn bộ tài sản bị cáo T4 đã trộm cắp là 880.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 04/CT- VKSKV4 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo. [3] Về tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện khắc phục hậu quả bằng việc lắp mới đường dây điện chiếu sáng tại khu vui chơi. Đây là tình

tiết giảm nhẹ hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). [4] Về vật chứng và xử lý vật chứng: - Đối với 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm, bên trong có 02 lõi ruột đồng loại 2x4.0mm, dài 23,7m và 01 đoạn dây điện màu xám, dây điện mềm, bên trong có 03 lõi ruột đồng loại 3x4.0mm, dài 4,8m, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho bà Đào Thị T2 là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật. - Đối với 01 đoạn dây diện màu đỏ, dây điện đôi loại 1.00mm, dài 12m và 01 đoạn dây diện màu xanh, dây điện đôi loại 2.00mm, dài 7,2m, có nhãn hiệu Vĩnh Thịnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông Bùi Ngọc T3 là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật. - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát 60U2- 3573, quá trình điều tra xác định bà Ngô Thị Thu T1 (mẹ ruột bị cáo T4) là chủ sở hữu hợp pháp, bà T1 không biết T4 mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe cho bà T1 là đúng quy định pháp luật. - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, màu xanh đen, biển kiểm soát 60T2-9048, là phương tiện bị cáo T4 sử dụng trong quá trình phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. - Đối với 01 kéo sắt dài 20cm, phần cán có bọc ống nhựa màu đen và 01 kéo bằng kim loại, cán màu cam đen, là các công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [5] Về dân sự: Các bị hại bà Lưu Ngọc H, bà Đào Thị T2 và ông Bùi Ngọc T3 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét. [6] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. [7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như đề xuất về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên bố bị cáo Đào Minh T4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Minh T4 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 7 năm 2025. 2. Về vật chứng: - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Taurus, màu xanh đen, biển kiểm soát 60T2-9048. - Tịch thu tiêu huỷ 01 kéo sắt dài 20cm, phần cán có bọc ống nhựa màu đen và 01 kéo bằng kim loại, cán màu cam đen. (Vật chứng hiện Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2025). 3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Minh T4 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ