- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Tùng D tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Trần Tùng D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 13/6/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 22 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Hải Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Hưng và bà Bùi Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: ông Triệu Sinh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đồng Đức Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tùng D, tên gọi khác: không; sinh ngày 09 tháng 7 năm 1992, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân V và bà Bùi Thị D1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: ông Phạm Văn N, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Tùng D sử dụng ma túy đá từ năm 2023. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 13/6/2025, Trần Tùng D đi đến khu vực R thuộc phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh, gặp và mua ma túy đá của người đàn ông giới thiệu tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Dương cầm ma túy ở tay trái và đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/6/2025, tại trước cửa số nhà G, đường N thuộc tổ A, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh, tổ tuần tra, kiểm soát Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng H, phát hiện bắt quả tang Trần Tùng D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của bị cáo: 01 túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Samsung màu xanh, gắn sim số 0865.672.056.
Tại bản Kết luận giám định số 728/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Trần Tùng D là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,236 gam (không phẩy hai ba sáu gam).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Tùng D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với chiếc điện thoại di động Samsung màu xanh thu giữ của Trần Tùng D, D khai nhận và qua điều tra xác định là điện thoại dùng để liên lạc hằng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Người chứng kiến là ông Phạm Văn N, sinh năm 1964, nơi cư trú tại khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh, có lời khai: vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 13/6/2025, khi đi qua khu vực thuộc tổ A, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh, ông N thấy lực lượng Biên phòng làm nhiệm vụ kiểm tra một người nam giới, sau này mới biết tên là Trần Tùng D; thu giữ tại tay trái của D 01 túi nilon, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ tại tay phải 01 điện thoại di động Samsung màu xanh. D khai nhận chất tinh thể màu trắng trong túi nilon là ma túy đá, D cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.
Cáo trạng số 5516/CT-VKSKV1 ngày 04/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Tùng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Tùng D từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13/6/2025.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 728/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q. Trả lại 01 điện thoại di động Samsung màu xanh gắn sim số 0865.672.056 cho bị cáo Trần Tùng D.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; việc khai báo tự nguyện, không bị ép buộc. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng bị thu giữ; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút, ngày 13/6/2025, biên bản kiểm tra, thu thập dữ liệu điện tử; Kết luận giám định số 728/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q và phù hợp với tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q lập. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/6/2025, tại trước cửa số nhà G, đường N thuộc tổ A, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, nay là thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng H phát hiện bắt quả tang Trần Tùng D có hành vi tàng trữ trái phép 0,236 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Tùng D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh đã truy tố.
Về áp dụng pháp luật
Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 theo hướng tăng nặng hình phạt, cụ thể: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm…”. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 18/6/2025 nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 “Điều khoản chuyển tiếp” Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15, Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo để giải quyết vụ án.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được tác hại của ma túy, các quy định nghiêm cấm của Nhà nước, nhưng bất chấp pháp luật, bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép 0,236 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng của bản thân. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ ông Trần Xuân V là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất do đã có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiê ̣m hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣luâ ̣t Hình sự.
Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
0,18 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 728/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
01 điện thoại di động Samsung màu xanh, 01 sim điện thoại có số thuê bao 0865.672.056 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định được bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc hằng ngày, không sử dụng vào việc mua ma túy nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.
Về các vấn đề khác: liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Trần Tùng D, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: bị cáo Trần Tùng D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 13/6/2025.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 728/KL-KTHS ngày 16/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Trả lại cho bị cáo Trần Tùng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, kèm 01 sim điện thoại.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 47/BB-THA/KV1 ngày 04/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Ninh).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Tùng D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND khu vực 1 - Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Quảng Ninh; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hải Ninh |