- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Đạt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KKHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 26 -9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Kiệt.
2. Ông Nguyễn Hoa Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Đăng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp, tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993, tạiT; HKTT: ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) Chỗ ở hiện nay: ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp); Số CCCD: 082093001150, Cấp ngày 28 tháng 02 năm 2025, Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam.; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn Tài, sinh năm 1967 và Huỳnh Thị Diệp, sinh năm: 1968; Anh chị em ruột: 02 người; Vợ: Đã ly hôn; Con: Có 01 người sinh năm 2023; Tiền sự: 02, Ngày 15/01/2025 bị Công an xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 16/01/2025. Ngày 21/3/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 04/4/2025. Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Nguyễn Văn C, sinh 1972 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Q, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người liên quan: Nguyễn Tấn Tài, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Q, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng: Nguyễn Minh C, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/4/2025, Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993, cư trú ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) điều khiển xe mô tô biển số 59PA-035.30 đi từ xã M về nhà. Trên đường về, Đ nảy sinh ý định trộm dừa để bán lấy tiến tiêu xài cá nhân. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) thì phát hiện vườn dừa của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp). Đ dừng xe, dùng liềm có sẵn trên xe cắt 01 buồng dừa có 16 trái dừa (loại dừa xiêm mã lai) bỏ vào bao nylon rồi cột lại để trên xe mô tô gắn biển số 59PA-035.30 tẩu thoát. Khi đang điều khiển xe chạy về hướng xã Đăng Hưng Phước thì bị anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1985, nơi thường trú ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp), phát hiện nghi vấn nên giữ lại và trình báo Công an.
Kết luận định giá số 26 KL-ĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định huyện C xác định 16 trái dừa tươi Mã Lai có giá trị là 208.000 đồng.
(Bút lục: 04-50,52-54)
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Tấn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị can phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin, tài liệu khám nghiệm hiện trường, lời khai bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, bị can có thân nhân là người có công lao với cách mạng.
Về vật chứng:
- 16 trải dừa tươi đựng trong 01 bao nylon màu trắng. Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn C,
-01 túi nylon màu xanh;
- 01 cái liềm cán bằng nhựa màu xanh;
- 01 dây ràng
- 02 đoạn ống nhựa PVC khoảng 50cm;
- 01 xe mô tô biển số 59PA-035.30.
Kết luận giám định số 801/KL-KTHS (Đ 2) ngày 20/6/2025 kết luận xe mô tô có số khung C50-8947734, số máy C50E-8947921 trước và sau giảm định không đổi.
Kết quả tra cứu, xác minh nguồn gốc xe thể hiện: Xe mô tô có số khung C50-8947734, số máy C50E-8947921 do bà Phan Thanh Loan, sinh năm 1960, cư trú ở 1, khu 1, thị trấn C, huyện C, tỉnhT (nay là xã C, tỉnh Đồng Tháp) đứng tên chủ sở hữu. Xe này có biển số là 63FC-2727 nhưng đã bị rơi mất. Năm 2022, bà Loan đã tặng xe cho Nguyễn Tấn Tài, sinh năm 1967, cư trú ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp), cha ruột Nguyễn Tấn Đ. Quá trình sử dụng xe, ông Tài nhặt được biển số 59PA-035.30 nên gắn vào xe để sử dụng.
Qua tra cứu, chủ sở hữu biển số 59PA-035.30 là bà Trần Thị Kim Hoa sinh năm 1968, cư trú số 68/9 Cách mạng tháng 8, Phường Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hoa đã bán xe mô tô có biển số 59PA-035.30 cho một người không rõ họ tên, địa chỉ vào năm 2019, nay bà không yêu cầu đổi với biển số xe 59PA-035.30.
Trách nhiệm dân sự:
Ông Nguyễn Văn C đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS-HS ngày 08/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 đã truy tố Nguyễn Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 173 và Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ từ 06 – 09 tháng tù.
Về vật chứng:
- Đã trả lại cho bị hại 16 trái dừa bị trộm.
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon màu xanh; 01 cái liềm cán bằng nhựa
màu xanh; 01 dây ràng; 02 đoạn ống nhựa PVC khoảng 50cm; Tịch thu tiêu hủy: Biển số xe mô tô 59PA-035.30.
- Đề nghị trả lại cho ông Nguyễn Tấn Tài 01 xe mô tô số khung C50-8947734, số máy C50E-8947921.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông C đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét phần bồi thường.
* Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng.
Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy được lỗi của mình, hứa không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận, khoảng 19 giờ ngày 22/4/2025, Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1993, cư trú ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) điều khiển xe mô tô biển số 59PA-035.30 đi từ xã Mỹ Tịnh An về nhà. Trên đường về, Đ nảy sinh ý định trộm dừa để bán lấy tiến tiêu xài cá nhân. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) thì phát hiện vườn dừa của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp). Đ dừng xe, dùng liềm có sẵn trên xe cắt 01 buồng dừa có 16 trái dừa (loại dừa xiêm mã lai) bỏ vào bao nylon rồi cột lại để trên xe mô tô gắn biển số 59PA-035.30 tẩu thoát. Khi đang điều khiển xe chạy về hướng xã Đăng Hưng Phước thì bị anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1985, nơi thường trú ấp Đăng Phong Dưới, xã Đăng Hưng Phước, huyện C, tỉnhT (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) phát hiện nghi vấn nên giữ lại và trình báo Công an. Kết luận định giá số 26 KL-ĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định huyện C xác định 16 trái dừa tươi Mã Lai có giá trị là 208.000 đồng. Trước đó, ngày 21/3/2025, Đ bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tịnh An ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 04/4/2025.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.”
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tính chất, mức độ hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo tuy gây ra hậu quả không lớn, xét về bản chất bị cáo thể hiện thái độ khinh thường pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại. C xử phạt nghiêm để răng đe và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự: Ngày 15/01/2025 bị Công an xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 16/01/2025. Ngày 21/3/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tịnh An ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 04/4/2025; Năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy", tuyên phạt 07 năm tù. Bị cáo đã chấp hành xong vào ngày 26/01/2019.
Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo có ông nội là người có công lao với cách mạng nên căn cứ vào Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Tấn Đ, không có khả năng tự cải tạo, trong thời gian bị xử phạt vi phạm hành chính về tội trộm cắp tài sản chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, do đó C phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
+ 16 Trái dừa xiêm mã lai cơ quan điều tra đã trao trả cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp.
+ Tịch thu tiêu hủy công cụ phương tiện dùng để phạm tội, không có giá trị sử dụng: 01 túi nylon màu xanh; 01 cái liềm cắn bằng nhựa màu xanh; 01 dây ràng; 02 đoạn ống nhựa PVC khoảng 50cm; Tịch thu tiêu hủy : Biển số xe mô tô 59PA-035.30.
+Trả lại cho ông Nguyễn Tấn Tài chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô số khung C50-8947734, số máy C50E-8947921.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án. Việc xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1/ Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2/ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị hại nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại: 16 trải dừa tươi đựng trong 01 bao nylon màu trắng (Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 18 tháng 6 năm 2025).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon màu xanh; 01 cái liềm cán bằng nhựa màu xanh; 01 dây ràng; 02 đoạn ống nhựa PVC khoảng 50cm; Biển số xe mô tô 59PA-035.30.
- Trả lại cho ông Nguyễn Tấn Tài 01 xe mô tô số khung C50-8947734, số máy C50E-8947921.
4/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tấn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Tấn Đ, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Tài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
- TAND Tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND Khu vực 1;
- THADS Đồng Tháp;
- Bị cáo, bị hại, người liên quan;
- Lưu.
Phạm Thị Sắc Ly
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh TG; - VKSND Tỉnh,thành phố Mỹ Tho; - Chi cục THA DS; - Trại giam; - Bị cáo, bị hại; - Lưu. quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). [5] Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 29/02/2024. Riêng người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. . | Phạm Thị Sắc Ly 4] Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị |