vanban.org

Bản án 63/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn T được ly hôn với chị Võ Thị Q. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019 cho chị Võ Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Võ Thị Q cùng các thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Văn Thừa - Võ Thị Quyên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Anh Đào.

Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Trong các ngày 03-9-2025 và ngày 22-9-2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp (Trụ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Văn T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Võ Thị Q, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh T vắng mặt có đơn, chị Q vắng mặt lần thứ 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Huỳnh Văn T trình bày: Vào năm 2019, anh T và chị Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp). Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng có hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2024 giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước cho nên chị Q đã bỏ nhà đi lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc, vợ chồng cũng đã từ năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên có sống chung cũng không hạnh phúc. Vì vậy, nay anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp giải quyết những vấn đề sau đối với bị đơn: Về hôn nhân: Anh Huỳnh Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Võ Thị Q; Về con chung: Có 01 con chung tên là Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019 (Hiện nay cháu Mỹ D đang sống chung với chị Q), anh T đồng ý giao cháu Mỹ D cho chị Q được tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng cấp nuôi con; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Võ Thị Q: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, chị Q vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mà không có lý do. Đồng thời, chị Q cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của chị Q đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện của anh Huỳnh Văn T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/V tranh chấp về hôn nhận và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị đơn chị Võ Thị Q hiện đang sinh sống tại xã T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12-Đồng Tháp, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Huỳnh Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn chị Võ Thị Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn T và chị Võ Thị Q là phù hợp theo quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh T yêu cầu được ly hôn với chị Q. Hội đồng xét xử xét thấy, anh T và chị Q sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) theo giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 11/02/2019 nên hôn nhân của anh T và chị Q là sự tự nguyện và hợp pháp.

Trong thời gian chung sống giữa anh T và chị Q có mâu thuẫn, giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước cho nên chị Q đã bỏ nhà đi lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc, vợ chồng cũng đã từ năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên có sống chung cũng không hạnh phúc. Nên anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Q.

Trong quá trình tố tụng , chị Q đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Võ Thị Q, ngoài ra chị Q cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp công kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, củng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm và việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đảm bảo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn chị Võ Thị Q không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của anh Huỳnh Văn T cũng như không phản đối gì đối với yêu cầu của anh Huỳnh Văn T , do đó căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc anh T trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử mâu thuẫn giữa anh T và chị Q đã trầm trọng, kéo dài, vậy nên nếu có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh T và chị Q có 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019, hiện cháu Mỹ D đang sống chung với chị Q. Nay ly hôn anh T đồng ý giao con chung cho chị Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay chị Q đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, muôi dưỡng. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống cũng như nhằm đảm bảo cho cháu phát triển toàn diện về mọi mặt cả về vật chất lẫn tinh thần nên giao cháu Mỷ D1 cho chị Q nuôi dưỡng, do chị Q không ý kiến phản đối gì đối với ý kiến của anh T và chị Q không có mặt tại phiên tòa, nên xét thấy ý kiến của anh T phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận giao con chung tên Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019 cho chị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Võ Thị Q cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Huỳnh Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Huỳnh Văn T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Võ Thị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Huỳnh Văn T theo quy định tại các điều 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, anh T cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy anh Huỳnh Văn T chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0000862 ngày 18-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Huỳnh Văn T đã nộp đủ án phí. Chị Võ Thị Q không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn T được ly hôn với chị Võ Thị Q.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Mỹ D, sinh ngày 25/8/2019 cho chị Võ Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Võ Thị Q cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Huỳnh Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Huỳnh Văn T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Võ Thị Q có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Huỳnh Văn T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Q không yêu cầu anh Huỳnh Văn T cấp dưỡng nuôi con, anh Huỳnh Văn T cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Huỳnh Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Anh Huỳnh Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

5. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

Anh Huỳnh Văn T có nghĩa vụ chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0000862 ngày 18-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Huỳnh Văn T đã nộp đủ án phí.

Chị Võ Thị Q không phải chịu án phí.

6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ