vanban.org

Bản án 63/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T. [1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 11 - AN GIANG
Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 9 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Dứt

2. Bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Xuân Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1993

Nơi cư trú: Số E, tổ A, ấp K, xã C, tỉnh An Giang (trước đây là số 575, tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang) (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1997

Nơi cư trú: Số C, tổ A, ấp P, xã C, tỉnh An Giang (trước đây là số 305, tổ A, ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Bùi Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 và chị L do mai mối nên tiến đến hôn nhân, vợ chồng chung sống từ năm 2013. Đến ngày 16/02/2016, anh T1 và chị L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số E, tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; đến năm 2017 vợ chồng sinh sống và làm việc tại tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn là do trong quá trình làm việc tại tỉnh Bình Dương, chị L có mâu thuẫn, xảy ra cãi vả với tổ trưởng trong Công ty nên sau khi về nhà trọ, anh T1 có lớn tiếng la rầy chị L về vấn đề này, dẫn đến chị L và anh T1 cãi vả, sau đó chị L bỏ đi khỏi phòng trọ khoảng 03 tháng; đến cuối tháng 3/2020 thì trở về sinh sống cùng với anh T1. Đến đầu tháng 4/2020, anh T1 phát hiện chị L có tình cảm với người đàn ông khác nên anh T1 có hỏi chị L về vấn đề này nhưng chị L không trả lời, sau đó, anh T1 bỏ về quê nhà tại xã K, huyện C sinh sống; vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì chị L có chung sống và sinh con với người đàn ông khác; ngoài ra, không còn mâu thuẫn nào khác. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L; bản thân anh Bùi Văn T có tạo cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng sau đó chị L đã có con với người đàn ông khác nên anh T không hàn gắn nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh Bùi Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L.

Về con chung: Anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L có 01 (một) con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015; hiện nay con chung đang sống với anh Bùi Văn T. Khi ly hôn, anh Bùi Văn T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015. Không yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh Bùi Văn T đang làm thuê với mức thu nhập khoảng 9.000.000 đồng/tháng nên đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện:

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Giấy khai sinh của cháu Bùi Thanh T2;

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Anh Bùi Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T. Về quan hệ hôn nhân, anh Bùi Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L. Về con chung, anh Bùi Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015; chị Nguyễn Thị Kim L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con chung tên Bùi Thanh T2, chị Nguyễn Thị Kim L có nơi cư trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 08/9/2025 xác định, chị Nguyễn Thị Kim L hiện nay vẫn còn cư trú và đăng ký thường trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nhưng thường vắng mặt tại địa phương, do không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được chị Nguyễn Thị Kim L đi đâu, làm gì. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú và điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của chị Nguyễn Thị Kim L tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Anh Bùi Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Kim L, yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, chị Nguyễn Thị Kim L (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp P, xã C, tỉnh An Giang) nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang) thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với chị Nguyễn Thị Kim L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Kim L.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L của anh Bùi Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Anh Bùi Văn T cho rằng, anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T có lớn tiếng la rầy chị L về vấn đề trong Công ty; đến đầu tháng 4/2020, anh T phát hiện chị L có tình cảm với người đàn ông khác nên anh T bỏ về quê nhà tại xã K, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống; vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2020 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên có động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L; bản thân anh Bùi Văn T có tạo cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị L đã có con với người đàn ông khác nên anh T không hàn gắn nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh Bùi Văn T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L.

Chị Nguyễn Thị Kim L đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T.

Xét thấy, anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị Nguyễn Thị Kim L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L theo quy định của pháp luật nhưng chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện chị Nguyễn Thị Kim L không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L nên lời trình bày của anh Bùi Văn T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc anh Bùi Văn T yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị Kim L phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015 của anh Bùi Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Anh Bùi Văn T xác định anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L có 01 (một) con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015, hiện nay đang sống với anh Bùi Văn T. Khi ly hôn, anh Bùi Văn T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thanh T2; không yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L không cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Kim L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của anh Bùi Văn T, con chung hiện nay đang sống với anh Bùi Văn T; quá trình sinh sống với anh Bùi Văn T, con chung vẫn phát triển tốt; đồng thời, căn cứ Biên bản ghi nhận ý kiến của con chung ngày 02/6/2025 (BL: 17), cháu Bùi Thanh T2 có nguyện vọng được sống với anh Bùi Văn T. Để giúp cháu Bùi Thanh T2 phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc anh Bùi Văn T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Bùi Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi anh Bùi Văn T và chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn nên chị Nguyễn Thị Kim L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng do anh Bùi Văn T không yêu cầu chị Nguyễn Thị Kim L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Anh Bùi Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị Kim L.

[2] Về con chung:

Anh Bùi Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thanh T2, sinh ngày 29/5/2015. Hiện nay đang sống với anh Bùi Văn T.

Chị Nguyễn Thị Kim L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Bùi Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Kim L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0024432 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh A).

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ