- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thiêm T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _____________ Bản án số: 63/2024/HSST Ngày: 07/03/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến
Bà Ngô Thùy Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ- tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Thiêm T, sinh năm: 1996; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: thôn P, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nông Thiêm Ch và bà Nguyễn Thị H; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1996; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Ninh.
*Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Kim Sơn, sinh năm 1993 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc
TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nông Thiêm T, sinh năm 1996, HKTT: Thôn Pàn Xã, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là đối tượng nghiện ma túy từ đầu năm 2023 đến nay.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, T đang ở nhà trọ tại khu phố Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đi bộ một mình ra khu vực gần cổng chào khu phố Mao Dộc, phường Phượng Mao. Tại đây, T gặp người bạn ngoài xã hội của T (T chỉ nhớ tên là Th) nên T tiến lại gần hỏi “Anh còn hàng không, bán cho em 200.000 đồng” ý T muốn hỏi mua ma túy của Th, Th đồng ý. Sau đó, T đưa cho Th 200.000 đồng, Th cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói giấy bạc màu trắng. T biết đó là ma túy cần mua nên cầm cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc để đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi được khoảng 10 mét thì bị tổ công tác Công an phường Phượng Mao yêu cầu kiểm tra. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang đối với T và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
* Vật chứng thu giữ: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Tại bản Kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 06/01/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 0,1364 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine là chất ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ, T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSQV ngày 21/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Nông Thiêm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nông Thiêm T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nông Thiêm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nông Thiêm T từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Về án phí: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của bà Nguyễn Thị Cúc – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh là người bào chữa cho bị cáo Nông Thiêm T:
Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Nông Thiêm T. Bị cáo T sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là người dân tộc thiểu số tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra bị cáo có ông nội là ông Nông Thiêm Hưng, sinh năm 1934 là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất và các bằng khen khác. Tại phiên tòa cũng như trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo trung thực, tỏ ra ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội, nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Thiêm T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tại khu phố Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ, tổ công tác Công an thị xã Quế Võ phối hợp với Công an phường Phượng Mao bắt quả tang Nông Thiêm T, sinh năm 1996, HKTT: thôn P, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có hành vi tàng trữ trái phép 0,1364 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nông Thiêm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma, túy. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Quế Võ, bị cáo là đối tượng nghiện, không chịu lao động mà tiếp tục sử dụng ma tuý mặc dù trước đó đã bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo Nông Thiêm T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông nội là ông Nông Thiêm H, sinh năm 1934 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất trong kháng chiến chống Mỹ, được UBND tỉnh Bắc Kạn tặng bằng khen có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên Th là người đã đưa ma tuý cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Do Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nông Thiêm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Nông Thiêm T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản giao vật chứng số 47 ngày 19/02/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND, Công an, Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
- VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
- Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Trần Xuân Nhân TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
THỊ XÃ QUẾ VÕ
NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
_________________
_____________________________________ Số : …../2024/HSST-QĐTG
Quế Võ, ngày 07 tháng 03 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Tuyến
2. Bà Ngô Thùy Phương
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 07 tháng 03 năm 2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Nông Thiêm T, sinh năm: 1996
HKTT: thôn Pàn Xả, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt …………… tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Cơ sở giam giữ Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- - Trại TG Công an tỉnh Bắc Ninh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- - VKSND thị xã Quế Võ;
- - Bị cáo;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Xuân Nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ QUẾ VÕ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
___________________________________
TỈNH BẮC NINH
__________________
Số: ……/2024/TL-TA
Quế Võ, ngày 07 tháng 03 năm 2024
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: …./2024/HSST ngày 07 tháng 03 năm 2024.
Đối với Nông Thiêm T, sinh năm 1996
HKTT: thôn Pàn Xả, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Con ông Nông Thiêm Chim và con bà Nguyễn Thị Hoan
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nông Thiêm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự
Xử phạt: Nông Thiêm T ……….. tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án..
………
Ngoài ra, bản án còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Nơi nhận
THẨM PHÁN
- Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
- Công an thị xã Quế Võ;
- Bị cáo
- Lưu hồ sơ.
Trần Xuân Nhân
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ QUẾ VÕ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________________
TỈNH BẮC NINH
________________
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách
Bà Ngô Thùy Phương
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Thiêm T, sinh năm: 1996; HKTT: thôn Pàn Xả, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Thiêm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý
2. Về điều luật và mức hình phạt áp dụng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nông Thiêm T .................. tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 04/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý
3. Về các vấn đề khác:
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Ninh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 47 ngày 19/02/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Thiêm T.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý
Nghị án kết thúc cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tuyến Ngô Thùy Phương
Trần Xuân Nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ QUẾ VÕ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
___________________________________
TỈNH BẮC NINH
__________________ Số: 60 /2024/QĐXXST-HS
Quế Võ, ngày 23 tháng 02 năm 2024
QUYẾT ĐỊNH
ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Căn cứ vào các điều 45, 255 và 277 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2024;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1
Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:
Nông Thiêm T, sinh năm 1996
HKTT: thôn Pàn Xả, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Thời điểm mở phiên tòa: 07 giờ 30 phút, ngày 07 tháng 3 năm 2024.
Địa điểm mở phiên tòa: Trụ sở TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Khu 3, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Vụ án được xét xử công khai trực tuyến.
Điều 2
1. Những người tiến hành tố tụng:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến – Cán bộ hưu
Bà Ngô Thùy Phương – Cán bộ hưu
Hội thẩm nhân dân sự khuyết: Ông Nguyễn Quang Sức và ông Nguyễn Kim Trị
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.
2. Những người tham gia tố tụng:
+ Bị cáo Nông Thiêm T
+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Cúc – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh.
+ Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Kim Sơn, sinh năm 1993 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
3. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không.
Nơi nhận
THẨM PHÁN
- VKSND thị xã Quế Võ;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Xuân Nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ QUẾ VÕ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
___________________________________
TỈNH BẮC NINH
__________________
Số: 69/2024/LTX-TA
Quế Võ, ngày 23 tháng 02 năm 2024
LỆNH TRÍCH XUẤT
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024;
Yêu cầu Công an thị xã Quế Võ - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh dẫn giải bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh đến phiên toà hình sự sơ thẩm được xét xử theo hình thức trực tuyến, bị cáo tham gia phiên toà tại điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (phòng xét xử trực tuyến số 02) vào hồi 7 giờ 30 phút, ngày 07 tháng 3 năm 2024.
Họ tên bị cáo: Nông Thiêm T, sinh năm 1996
HKTT: thôn Pàn Xả, xã Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Con ông Nông Thiêm Chim và con bà Nguyễn Thị Hoan.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 cho đến nay.
Bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tùy " theo điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Yêu cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh cho bị cáo mặc trang phục tại phiên toà theo đúng quy định tại Điều 1 Nghị quyết 743 ngày 24 tháng 12 năm 2004. của Ủy ban thang vụ Quốc Hội.
| Nơi nhận - Công an thị xã Quế Võ; - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trần Xuân Nhân |