- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Trương Đình P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/11/2023.
- Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 25-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Ông Huỳnh Văn Đẹp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ tên: Trương Đình P; sinh năm 2002; tại: Vĩnh Long. Nơi thường trú: 95/23 N, Tổ 10, khóm P, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tich: Việt Nam; con ông Lư Văn C, và bà Trương Thị H, vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/11/2023
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Đình P có mâu thuẫn với đối tượng tên Kim B1 (không rõ lai lịch) nên hai bên hẹn đánh nhau tại trước cổng trường THCS T5, xã T, huyện H. P rủ Đặng Minh T, Nguyễn Quang T1 (B), Nguyễn Thanh H1, Nguyễn Văn T2 (Đen), Lại Quốc H2, Bùi Ngọc D, Huỳnh Phát Đ và Bin N, Q, T3 (chưa rõ lai lịch) để đi đánh nhau với Kim B1. Tất cả đồng ý. P có nói với cả nhóm ai có hung khí thì mang theo và hẹn gặp nhau tại trước trường THCS T5, xã T, huyện H. H1 rủ Nguyễn Văn V, Q1 (chưa rõ lai lịch). T1 rủ thêm Nguyễn Hoài L, Trương Hoàng V1 và L1 (chưa rõ lai lịch) đi giúp P đánh nhau. Hoàng V1 rủ Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H3, Q2 (chưa rõ lai lịch). L rủ thêm Nguyễn Tài Anh T4 (T) cùng tham gia.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/11/2021, P gặp T, H2, D, T2, H1, Q, Văn V, Phát Đ và Q1. Lúc này, Văn V nói “nhóm ít người nên chơi thêm bom xăng cho chắc” nên Văn V đi kiếm vỏ chai bia bằng thủy tinh và mua xăng về để cả nhóm tự chế được 05 chai bom xăng. Sau đó, H2 điều khiển xe máy hiệu Dream màu đỏ biển số 53Y1-4864 chở P, Văn V ngồi phía sau, P cầm theo 01 cây kiếm nhật bằng kim loại dài khoảng 80cm, Văn V cầm theo 01 chai bom xăng; T điều khiển xe máy hiệu Dream màu nâu (không rõ biển số) chở D và Q, trong đó Dương cầm theo 01 cây mã tấu bằng kim loại dài khoảng 80cm, Q cầm 02 chai bom xăng; Q1 điều khiển xe máy hiệu Luvias màu xanh trắng (không rõ biển số) chở H1 cầm theo 01 chai bom xăng; Phát Đ điều khiển xe máy hiệu Exciter màu trắng xanh (không rõ biển số) chở Bin N ngồi sau mang theo 01 chai bom xăng; T3 điều khiển xe gắn máy hiệu Vario màu xám (không rõ biển số) chở T2 cầm một cây kiếm tự chế. Cả nhóm đi đến trước cổng trường THCS T5, ấp T, xã T, H đợi nhóm Kim B1.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm của T1 gồm Thành Đ1 điều khiển xe máy hiệu Vario biển số 50Y1-511.86 chở H3, Hoàng V1 điều khiển xe máy hiệu Vario (không rõ biển số) chở Q2, T1 điều khiển xe hiệu Vario màu trắng đỏ đen biển số 50Y1-666.96 chở L, L1 điều khiển xe hiệu Winner (không rõ biển số) chở T4 rồi cả nhóm đi đến gặp nhóm P. Tại trước cổng trường THCS T5, hai nhóm nhập lại, chạy thành đoàn, cầm theo hung khí đi tìm nhóm Kim B1. Riêng L1 chở T4 về không tham gia do thấy nhiều người mang theo hung khí.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến gần ngã ba đường B và đường N, đoạn trước cửa tiệm C1, số D N, ấp T, xã T thì nhóm của P gặp lực lượng trinh sát thuộc Đ2 Công an huyện H làm nhiệm vụ tuần tra do anh Nguyễn Tấn M làm tổ trưởng đang điều khiển xe máy chạy ngược chiều lại. Nhóm của P tưởng nhầm là nhóm của Kim B1 đi đến nên la lên “Tụi nó kìa”. Cả nhóm quay đầu xe rồi dừng lại thủ thế sẵn. D, Q, P, T2, Văn V, H1, Bin N bước xuống xe cầm bom xăng, dao tự chế đứng dàn hàng ngang ra giữa đường và đưa dao chỉ về phía lực lượng Công an, còn L, H3, Đ1 và một số đối tượng khác dừng xe phía sau dùng số đông uy hiếp tinh thần đối phương. Văn V, Q, H1 và Bin N lấy bật lửa đốt vào miếng vải ở đầu chai bom xăng cho cháy rồi ném vào tổ tuần tra gây ra nhiều đám cháy trên lòng đường. Lúc này lực lượng trinh sát hình sự nổ súng chỉ thiên và hô to “Cảnh sát hình sự đây” nên cả nhóm liền lên xe máy bỏ chạy thoát. Khi về gần tới chợ T6 thì cả nhóm dừng xe và gom hung khí gồm mã tấu, kiếm tự chế đưa cho H1 mang đi cất giấu.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Đình P, Lại Quốc H2, Nguyễn Văn T2, Đặng Minh T, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Hoài L, Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H3 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Tuy nhiên, sau đó P bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, đến ngày 02/11/2023 P bị bắt theo quyết định truy nã.
Vật chứng thu giữ : 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen, P dùng vào việc phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS - HM ngày 22 tháng 01 năm 2023Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo: Trương Trung P1 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử; tuyên bố bị cáo về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Xử lý vật chứng: Tịch thu điện thoại di động Iphone X màu đen của bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Bị cáo không tranh luận; bị cáo trình bày lời nói sau cùng là bị cáo hối hận về hành vi của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ, tạo điều kiện cho các bị cáo hòa nhập xã hội, thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện: Do có mâu thuẫn với Kim B1 nên P1 rủ Đặng Minh T, Nguyễn Quang T1 (B), Nguyễn Thanh H1, Nguyễn Văn T2 (Đen), Lại Quốc H2, Bùi Ngọc D, Huỳnh Phát Đ và Bin N, Q, T3 (chưa rõ lai lịch) để đi đánh nhau với Kim B1. H1 rủ Nguyễn Văn V, Q1 (chưa rõ lai lịch). T1 rủ thêm Nguyễn Hoài L, Trương Hoàng V1 và L1 (chưa rõ lai lịch) đi giúp P1 đánh nhau. Hoàng V1 rủ Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H3, Q2 (chưa rõ lai lịch). L rủ thêm Nguyễn Tài Anh T4 (T) cùng tham gia. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/11/2021, P1 gặp T, H2, D, T2, H1, Q, Văn V, Phát Đ và Q1. Văn V đi kiếm vỏ chai bia bằng thủy tinh và mua xăng về để cả nhóm tự chế được 05 chai bom xăng. Sau đó, H2 điều khiển xe máy hiệu Dream màu đỏ biển số 53Y1-4864 chở P1, Văn V ngồi phía sau, P1 cầm theo 01 cây kiếm nhật bằng kim loại dài khoảng 80cm, Văn V cầm theo 01 chai bom xăng. Cả nhóm đi đến trước cổng trường THCS T5, ấp T, xã T, H đợi nhóm Kim B1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm của T1 gồm Thành Đ1 điều khiển xe máy hiệu Vario biển số 50Y1-511.86 chở H3, Hoàng V1 điều khiển xe máy hiệu Vario (không rõ biển số) chở Q2, T1 điều khiển xe hiệu Vario màu trắng đỏ đen biển số 50Y1-666.96 chở L, L1 điều khiển xe hiệu Winner (không rõ biển số) chở T4 rồi cả nhóm đi đến gặp nhóm P1. Tại trước cổng trường THCS T5, hai nhóm nhập lại, chạy thành đoàn, cầm theo hung khí đi tìm nhóm Kim B1. Riêng L1 chở T4 về không tham gia do thấy nhiều người mang theo hung khí.Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến gần ngã ba đường B và đường N, đoạn trước cửa tiệm C1, số D N, ấp T, xã T thì nhóm của P1 gặp lực lượng trinh sát thuộc Đ2 Công an huyện H làm nhiệm vụ tuần tra do anh Nguyễn Tấn M làm tổ trưởng đang điều khiển xe máy chạy ngược chiều lại. Nhóm của P1 tưởng nhầm là nhóm của Kim B1 đi đến nên la lên “Tụi nó kìa”. Cả nhóm quay đầu xe rồi dừng lại thủ thế sẵn. D, Q, P1, T2, Văn V, H1, Bin N bước xuống xe cầm bom xăng, dao tự chế đứng dàn hàng ngang ra giữa đường và đưa dao chỉ về phía lực lượng Công an, còn L, H3, Đ1 và một số đối tượng khác dừng xe phía sau dùng số đông uy hiếp tinh thần đối phương. Văn V, Q, H1 và Bin N lấy bật lửa đốt vào miếng vải ở đầu chai bom xăng cho cháy rồi ném vào tổ tuần tra gây ra nhiều đám cháy trên lòng đường. Lúc này lực lượng trinh sát hình sự nổ súng chỉ thiên và hô to “Cảnh sát hình sự đây” nên cả nhóm liền lên xe máy bỏ chạy thoát. Khi về gần tới chợ T6 thì cả nhóm dừng xe và gom hung khí gồm mã tấu, kiếm tự chế đưa cho H1 mang đi cất giấu. Các bị cáo Lại Quốc H2, Nguyễn Văn T2, Đặng Minh T, Nguyễn Quang T1 (B), Nguyễn Hoài L, Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H3 đã được xét xử theo Bản án số 221/2022/HSST ngày 16-12-2022 xong, riêng Trương Đình P bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
Nội dung khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở chứng minh hành vi của các bị cáo Trương Đình P phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” Điều 318 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hành vi bị cáo Trương Đình P đã rủ rê, xúi giục các bị cáo khác gây rối và chuẩn bị vũ khi là bom xăng tự chế, sử dụng hung khí là kiếm N. Do vậy, cáo trạng số 38/CT-VKS-HM ngày 22/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
…
d) Xúi giục người khác gây rối;
……”
Áp dụng điều luật viện dẫn nếu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết, cần xem xét đến hành vi của bị cáo có mức án tương xứng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo là người rủ rê, lôi kéo, xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội; Khi Quyết định hình phạt, Hội dồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
* Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa gây thiệt hại về tài as3n hoặc sức khỏe cho người khác. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
* Tình tiết tăng nặng: Bị cáo khi phạm tội không chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bỏ trốn gây khó khăn cho việc xét xử. Bị cáo xúi giục Nguyễn Quang T1 (B), Nguyễn Hoài L, thời điểm này T1 sinh ngày 01/8/2004 và Nguyễn Hoài L2, sinh ngày 23/9/2005 (T1 và L chưa đủ 18 tuổi). Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là xúi giục người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về Xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen, bị cáo sử dụng để liên lạc điện thoại cho các bị cáo khác, bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47; 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự về xử lý vật chứng. Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: bị cáo Trương Đình P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/11/2023.
Xử lý vật chứng: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen.
(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn đang tạm giữ theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 25/01/2024) (bút lục 182).
Án phí: Bị cáo Trương Đình P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV.TATpHCM; - VKSND H HM; - VKSND TpHCM; - CQĐT CA H Hóc Môn; - Chi cục THA DS H Hóc Môn; - Nhà tạm giữ CA HM; - Thi hành án phạt tù; - Bị cáo; - Hồ sơ; Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |