vanban.org

Bản án 63/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thế D.

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vƣơng Hùng V. Về trách nhiệm hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thế D.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:63/2023/HS-ST
Ngày: 27-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân

Bà Lê Thị Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thế D (tên gọi khác: Bu), sinh năm 1994 tại Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 31/8 khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1975 và bà Ao Thị Kim U, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2022 đến nay.

2. Vƣơng Hùng V, sinh năm 1999 tại Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 61/3, khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vƣơng H (chết) và bà Trần Phƣơng T, sinh năm 1967; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2022 đến ngày 23/11/2022 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cho bảo lĩnh.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Nguyễn Gia T, sinh năm 1971; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 196/4 khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Trần Xuân T, sinh năm 1967; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 61/3, khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Trƣơng Thu T, sinh năm 1996, vắng mặt.

Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1982, vắng mặt.

Châu Thị T, sinh năm 1961, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/5/2022, Vƣơng Hùng V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 61C2- 075.72 chở Nguyễn Thế D từ quán Karaoke Minh Quang thuộc phƣờng Bình Nhâm, thành phố Thuận An về nhà tại khu phố Đ, phƣờng L. Khi đến ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng 3/2 và dƣờng Nguyễn Văn Tiết, phƣờng Lái Thiêu thì xe mô tô do V điều khiển suýt xảy ra va chạm với xe mô tô do ông Nguyễn Gia T, sinh năm 1971; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: 196/4 khu phố Đ, phƣờng L, thành phố T điều khiển. Ông T chữi “Má, biết chạy xe không” rồi điều khiển xe bỏ đi về hƣớng ngã 3 Sở Rác. Lúc này, D nói với V: quay xe lại đuổi theo ông T để xem ông T muốn gì thì V đồng ý. V điều khiển xe đuổi theo khoảng 100m, khi đến trƣớc số nhà 102/2 đƣờng 3/2, khu phố Đông Tƣ thì đuổi kịp ông T. V và D chặn đầu xe ông T lại, D xuống xe lấy nón bảo hiểm đang đội trên đầu đánh vào vùng mặt và đầu ông T nhiều cái, V cũng bƣớc xuống dùng tay đánh 01 cái vào vùng mặt ông T rồi quay lại ngồi lên xe. Khi thấy ông T ngã xuống đƣờng D tiếp tục dùng chân đá vào vùng đầu ông T 01 cái nữa rồi lên xe để V điều khiển rời khỏi hiện trƣờng. Ông T đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu và sau đó trình báo cơ quan Công an. Ngày 26/5/2022, Vƣơng Hùng V và Nguyễn Thế D đến công an phƣờng Lái Thiêu đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 61C2- 075.72, 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, phía sau ghi chữ “nón sơn”.

Kết luận giám định pháp y số 453/2022/GĐPY ngày 20/6/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bình Dƣơng xác định ông Nguyễn Gia T bị: Chấn thƣơng đầu, mặt xây xát da góc ngoài mắt trái 02x0,1cm, xây xát da góc cằm trái 02x1,5cm, đã lành, còn vết sạm da. Gãy thành xoang hàm, cung gò má, tahnfh ngoài hóc mắt trái, đã cal. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây ra là 20%.

Cơ chế hình thành thƣơng tích: Các vết xây xát da bờ không rõ, gãy xƣơng kín, khả năng do vật tày tác động vào vùng đầu, mặt gây ra.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 61C2- 075.72 do V điều khiển, V khai là mƣợn của mẹ là bà Trần Xuân T, sinh năm 1967; nơi đăng ký hộ khẩu: 61/3 khu phố Đ, phƣờng L để đi công việc. Quá trình làm việc xác định bà T là chủ sở hữu chiếc xe trên, bà T cho V mƣợn xe nhƣng không biêt V dùng vào việc phạm tội. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe cho bà T.

Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng, đây là tài sản của bị cáo D và D dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo V và D đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại Nguyễn Gia T số tiền 30.000.000 đồng. Bị hại T không yêu cầu bồi thƣờng gì khác, nên không đặt ra xem xét.

Cáo trạng số 43/CT-VKS-TA ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thế D, Vƣơng Hùng V về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thế D.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vƣơng Hùng V.

Xử phạt bị cáo Vƣơng Hùng V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Gia T không yêu cầu bồi thƣờng gì khác, nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại đã nhận tiền bồi thƣờng, cam kết không thắc mắc khiếu nại gì và có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với quy định Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thế D và Vƣơng Hùng V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/5/2022, tại trƣớc số nhà 102/2 đƣờng 3/2, khu phố Đông Tƣ, phƣờng Lái Thiêu. Nguyễn Thế D, Vƣơng Hùng V có hành vi sử dụng nón bảo hiểm, tay, chân đánh ông Nguyễn Gia T, với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên là 20%. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thế D và Vƣơng Hùng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích”, thuộc tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo Nguyễn Thế D và Vƣơng Hùng V về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, các bị cáo không tìm cách ứng xử khác phù hợp đạo đức, pháp luật mà sử dụng nón bảo hiểm là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phƣơng, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt phù hợp hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Về đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng ở mức giản đơn. Căn cứ Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự để phân hóa vai trò, cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Trong vụ án này bị cáo D là ngƣời khởi xƣớng và trực tiếp dùng nón bảo hiểm gây thƣơng tích cho bị hại. Thƣơng tích của bị hại T phần lớn là do tác động từ nón bảo hiểm do bị cáo D gây ra. Do đó, đối với bị cáo D cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo V. Bị cáo V tham gia với vai trò là đồng phạm giúp sức, bị cáo V chỉ dùng tay đánh 01 cái vào vùng mặt của bị hại T. Do đó, khi lƣợng hình sẽ xem xét đến vai trò, tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo để có mức hình phạt tƣơng xứng.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tác động ngƣời nhà bồi thƣờng cho bị hại; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú tại cơ quan có thẩm quyền, bị hại có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy bị cáo V có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu tham gia với vai trò giúp sức. Bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thƣờng và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 nón bảo hiểm màu trắng, đây là tài sản của bị cáo D và D dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thế D.

- Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vƣơng Hùng V.

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thế D và Vƣơng Hùng V phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2022.

Xử phạt bị cáo Vƣơng Hùng V 02 (hai) năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (27/02/2023).

Giao bị cáo Vƣơng Hùng V cho Ủy ban nhân dân phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu trắng, phía sau có chữ “Nón sơn”.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/01/2023 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

4. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thế D và bị cáo Vƣơng Hùng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ