- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Chu Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt bị cáo Chu Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/4/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Luân.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Chu Văn C, sinh năm 1979 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ N, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn H và bà Lê Thị Th; vợ là Lê Thị H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/10/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; ngày 26/5/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/3/2005 bị Công an thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 23/11/2005 bị Công an phường Trần Hưng Đạo, thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 12/12/2007 bị Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; bị bắt tạm từ ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1965; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Tổ N, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 18/9/2022, Chu Văn C điều khiển xe mô tô từ xã Thi Sơn về thị trấn Quế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Khi đến đầu cầu Quế thuộc xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng thì gặp ông Lê Văn Đ đi ngược chiều vào quán ăn sáng của ông Thái Xuân Tr ở thôn X, xã T, huyện K. Do có mâu thuẫn từ trước về việc ông Đ thả bèo, nuôi nhiều vịt tại ao nơi Chu Văn C thả cá dẫn đến chết cá, C điều khiển xe mô tô quay lại đến trước cửa quán ăn của ông Tr thì lúc này ông Đ cũng bước ra khỏi xe mô tô, C cũng dựng xe và đi đến trước cửa quán gần chỗ ông Đ đứng và chửi “Đ mẹ mày, tao đánh chết mẹ mày, mày cứ ra đường tao đánh”, ông Đ nói với C “Tao không thèm đánh nhau với mày, tốt nhất mày về đi”. C không nói gì và điều khiển xe mô tô đi về, do bực tức với ông Đ nên khi về đến nhà C lấy đoạn tuýp sắt phi 21 một đầu hàn con dao dạng dao quắm có tổng chiều dài 96cm (phần lưỡi dao dài 23cm, phần tuýp sắt dài 73cm) cầm ở tay và điều khiển xe mô tô đi đến quán ăn sáng nơi ông Đ ngồi ăn sáng. Khi đến quán ăn sáng của ông Tr, tay phải C cầm đoạn tuýp sắt hàn con dao đi vào vị trí ông Đ ngồi ăn sáng, C dùng tay phải cầm đoạn tuýp dơ lên chém phần lưỡi dao về phía người ông Đ một nhát nhưng ông Đ tránh được, C tiếp tục dơ lên chém nhát thứ hai ông Đ dơ tay trái lên đỡ làm phần lưỡi dao trúng vào cẳng tay phía ngoài gây rách da chảy máu. Ông Đ dùng tay túm được đoạn tuýp của C và giằng co với C khoảng 02 phút ông Đ giằng được đoạn tuýp hàn dao của C, trong quá trình giằng đoạn tuýp, C dùng tay trái đấm một nhát trúng vào mắt ông Đ. Thấy ông Đ giằng được đoạn tuýp có hàn dao, C bỏ chạy ra ngoài lấy xe mô tô đi về, ông Đ cầm đoạn tuýp có hàn dao mang đến Công an xã Thi Sơn giao nộp và trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ gồm: Ông Lê Văn Đ giao nộp: 01 đoạn ống tuýp sắt phi 21 có tổng chiều dài 96cm, một đầu được hàn 01 con dao dạng dao quắm (phần lưỡi dao dài 23cm, phần tuýp sắt dài 73cm) cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc áo rằn ri, loại áo dài tay, bên ống tay trái có dòng chữ “Quân đội nhân dân Việt Nam”, áo bị đứt 03 nút cúc 2, 3, 4 theo thứ tự từ trên xuống, áo cũ đã qua sử dụng; 01 USB ghi lại hình ảnh C và ông Đ xô xát đánh nhau trích xuất từ Camera an ninh tại quán ăn sáng của ông Thái Xuân Tr.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 350/22/TgT ngày 15/11/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Nam kết luận thương tích của ông Lê Văn Đ như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 02 vết biến đổi sắc tố da cẳng tay trái; Bầm tím dưới đuôi mắt phải đã ổn định.
2. Căn cứ bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định: 01% (một phần trăm).
3. Chiều hướng, cơ chế hình thành vết thương:
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu và khám giám định, nhận định:
- Thương tích đã ổn định, không đủ căn cứ xác định chiều hướng.
- Rách da do tác động với vật có góc cạnh gây nên. Bầm tím do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSKB ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Chu Văn C về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo, buộc bị cáo C phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ông Đ số tiền 10.000.000 đồng. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo rằn ri và 01 ống tuýp sắt phi 21, một đầu hàn 01 con dao quắm; tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; về trách nhiệm dân sự bị cáo nhất trí bồi thường các khoản thiệt hại về sức khỏe cho ông Lê Văn Đ tổng số tiền là 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị hại là ông Lê Văn Đ trình bày: Do có mâu thuẫn từ trước đó, vào buổi sáng ngày 18/9/2022 tại quán ăn sáng của ông Thái Xuân Tr, bị cáo C có cầm đoạn tuýp sắt gắn 01 con dao quắm dơ lên chém ông, khi ông giơ tay trái lên đỡ thì bị trúng vào cẳng tay và bị rách da, chảy máu. Nay ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo C. Về dân sự: Ông Đ yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông với tổng số tiền là 10.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Chu Văn C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về thương tích và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Do mâu thuẫn từ trước, khoảng 08 giờ ngày 18/9/2022 tại quán ăn sáng của ông Thái Xuân Tr ở thôn X, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam, bị cáo Chu Văn C đã dùng tay phải cầm đoạn tuýp sắt phi 21 một đầu hàn con dao dạng dao quắm có tổng chiều dài 96cm gồm phần lưỡi dao dài 23cm, phần tuýp sắt dài 73cm chém 02 nhát về phía ông Lê Văn Đ, nhát thứ nhất ông Đ tránh được, nhát thứ hai ông Đ dơ tay trái lên đỡ làm cẳng tay phía ngoài bị rách da, chảy máu, thiệt hại 01% sức khỏe.
Mặc dù Chu Văn C gây thương tích cho ông Đ chỉ thiệt hại 01% sức khỏe (dưới 11%), tuy nhiên C đã dùng hung khí nguy hiểm nên hành vi của C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây nên sự bất bình trong nhân dân. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã 01 lần bị đưa ra xét xử và kết án về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và 01 lần bị đưa ra xét xử và kết án về các tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”; ngoài ra, bị cáo còn rất nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi khác nhau.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn C và bị hại là ông Lê Văn Đ thống nhất thỏa thuận bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Đ tổng số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng). Xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 ống tuýp sắt dài 96cm, một đầu được hàn 01 con dao là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và 01 chiếc áo rằn ri cũ là tài sản hợp pháp của ông Đ, tuy nhiên ông Đ không có yêu cầu trả lại, do vậy cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 USB có chứa 01 đoạn video trích xuất hình ảnh từ Camera an ninh tại quán ăn sáng nhà ông Thái Xuân Tr là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự. Căn cứ các Điều 584; 585; 590 Bộ luật Dân sự. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Chu Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt bị cáo Chu Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/4/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị hại là ông Lê Văn Đ và bị cáo Chu Văn C. Bị cáo Chu Văn C có trách nhiệm bồi thường cho ông Lê Văn Đ các khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 ống tuýp sắt dài 0,96 mét, một đầu được hàn 01 con dao (dạng dao quắm) cũ đã qua sử dụng và 01 chiếc áo rằn ri, loại áo dài tay, bên ống tay trái có dòng chữ “Quân đội nhân dân Việt Nam”, áo bị đứt 03 nút cúc 2; 3; 4 theo thứ tự từ trên xuống, áo cũ đã qua sử dụng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo |