vanban.org

Bản án 63/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc T - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HS-ST
Ngày: 31-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Hải Toản;

Thẩm phán: ông Phạm Duy Hải;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Thủy; ông Vũ Xuân Kiều; ông Vũ Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Vũ Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Hoàng Ngọc T - tên gọi khác: không; sinh ngày 20/02/1976, tại Đ, Quảng Ninh; nơi đăng ký HKTT: tổ H, khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trung K và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Triệu Thị T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không;

- Nhân thân:

+ Ngày 28/11/1996, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;

+ Ngày 07/4/1997, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”. Tổng hợp với bản án ngày 28/11/1996, buộc Hoàng Ngọc T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 09 tháng tù.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

• Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Ánh T2 và Nguyễn Thị H – Văn

phòng L, đoàn Luật sư thành phố H (Luật sư T2 có mặt, Luật sư H vắng mặt).

- Bị hại: bà Trần Thị Minh H1; sinh năm: 1975; địa chỉ: tổ D, khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; địa chỉ: tổ D, khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

+ Ông Đỗ Đăng V, sinh năm 1954; địa chỉ: tổ D, khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ H, khu T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Hoàng Ngọc T lái xe ô tô đầu kéo biển số 29H - 756.49, rơ móc số 29R - 080.72, thuê cho gia đình anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1986, trú tại số nhà B, tổ H, khu G, phường K, thị xã Đ). Giữa T và chị Trần Thị Minh H1 (sinh năm 1975, trú tại tổ D, khu T, thị xã Đ) có quan hệ tình cảm nam nữ, nhưng đến khoảng tháng 06/2022 thì cả hai chia tay. Sau đó, giữa T và chị H1 thỉnh thoảng có xảy ra cãi chửi nhau, nên T nảy sinh ý định dùng điện để điện giật chị H1.

Ngày 20/12/2022, T dùng 01 đoạn dây kim loại màu trắng dài 4,92m và uốn hai đầu thành móc. Tiếp đó, T lấy 01 đoạn dây điện có vỏ bằng nhựa màu vàng dài 10m và dùng răng tách vỏ nhựa màu vàng để lấy: 02 dây điện có vỏ cách điện mầu trắng, có kích thước lần lượt là 4,93m và 3,63m; 02 dây điện có vỏ cách điện màu đen, có kích thước lần lượt là 4,86m và 3,75m. Sau đó, T nối các sợi dây điện này với nhau thành một sợi dây điện dài khoảng 17m. Xong T dùng đầu dây điện có màu đen đầu đấu nối vào đoạn dây kim loại mà T uốn thành móc từ trước và dùng băng dính màu đen quấn lại các đoạn nối của dây dẫn điện. Sau khi làm xong, T cho tất cả vào 01 chiếc túi nilon và đem để lên trên xe ô tô tải biển số 29H - 756.49.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/12/2022, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 29H - 756.49, rơ móc số 29R - 080.72, đỗ ở khu vực công viên R, thuộc phường Đ, thị xã Đ, rồi cầm theo sợi dây điện đi đến nhà chị H1 ở bên trong “Ngách 11/51”. Đến nơi, T trèo lên cột điện số 13 và ngồi lên trên bờ tường gạch, đồng thời dùng tay ngắt Actomat điện của gia đình ông Đỗ Đăng V. T dùng chìa khoá xe máy, tháo ốc vít để tháo dây điện dẫn (dây nóng) vào nhà ông V ra, rồi T lấy đoạn dây điện mà T mang theo, dùng phần lõi bằng kim loại ở đầu đoạn dây điện màu trắng đấu vào Actomat, rồi soắn ốc vít lại để cố định dây điện. Sau đó, T cầm một đầu dây điện, trèo vào bên trong vườn nhà bà Nguyễn Thị N và dòng dây điện dưới đất gần bờ tường rào, còn đầu dây điện đấu vào móc kim loại thì T móc trực tiếp vào cánh cổng bằng kim loại của nhà chị Trịnh Thị Thu H2. Sau đó, Trường quay lại đóng điện A mà T vừa ngắt, rồi T đi về nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 24/12/2022, ông V và anh Nguyễn Ngọc B phát hiện sự việc nên đã trình báo Công an thị xã Đ. Đến ngày 25/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ tiến hành bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Ngọc T.

Biên bản khám nghiệm hiện trường, thể hiện: Nơi xảy ra vụ việc tại ngõ ngách 11/51 và khu vườn nhà bà Nguyễn Thị N cùng nhà chị Trần Thị Minh H1. Cổng nhà chị H1 quay hướng N1 đi ra đường ngách 11/51; hai cánh cổng được làm bằng bằng kim loại rộng 2,1m và cao 2,13m, mỗi cánh hình chữ nhật có kích thước bằng nhau (1,05 x2,13)m, cánh cổng có phủ lớp sơn màu xám bên ngoài và trên cánh cổng có một số vết sơn bị bong tróc, lộ kim loại. Tại vị trí cánh cổng phía đông sát trụ cổng, cách bờ tường phía tây nhà bà N 0,7m và cách mặt đất 2,04m có một móc bằng kim loại màu trắng gập đôi dài 2,46m, được nối với dây dẫn điện (gồm 04 (bốn) đoạn được nối liên tiếp với nhau, trong đó có 02 (hai) đoạn dây điện có vỏ màu trắng dài lần lượt là 4,93m và 3,63m nối với nhau; tại điểm nối không quấn băng dính cách điện, được buộc vào cành cây dưới đất và nối với 02 (hai) đoạn dây điện có vỏ màu đen, có độ dài lần lượt là 4,86m và 3,75m; tại điểm nối của hai dây điện màu đen có quấn băng dính cách điện màu đen và ròng qua vườn nhà bà N; điểm cuối của dây điện là dây có vỏ màu trắng được nối với cực dương Actomat của công tơ nhà ông V. Tủ công tơ trên cột điện kích thước (40 x80)cm, điểm thấp nhất của tủ công tơ cách mặt bờ tường phía đông nhà bà N 40cm, bờ tường phía đông và phía tây nhà bà N cao 02m. Khoảng cách từ vị trí cột điện số 13 nằm ở đầu đường N và cách vị trí trụ cột cổng của gia đình chị H1 15,2m. Khi A cấp điện cho nhà ông V được đóng điện, thì tại vị trí móc kim loại màu trắng có điện thế = 220V.

Tại bản kết luận giám định số 22 ngày 03/01/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Trên đầu dây dẫn điện màu trắng dài 4,93m (đầu không nối với dây điện) và hai đầu sợi dây kim loại màu trắng gửi giám định có dấu vết ADN của Hoàng Ngọc T. Các đoạn dây điện còn lại gửi giám định có dấu vết ADN người, kiểu gen phân tích được không đủ yếu tố truy nguyên cá thể.

Tại Công văn số 256/PCQN – AT ngày 19/01/2023, của Công ty Đ1 - Tổng công ty Đ2, thể hiện: Tại khoản 3.4.2. Điện áp cực thấp an toàn - Tiêu chuẩn Quốc gia 5699-1:2010 về Thiết bị điện gia dụng và thiết bị tương tự - An toàn, quy định: Điện áp cực thấp an toàn là “Điện áp không lớn hơn 42V giữa các dây dẫn và giữa dây dẫn và đất, điện áp không tải không lớn hơn 50V”. Theo tiêu chuẩn này khi tiếp xúc với nguồn điện có điện áp lớn hơn 42V đều có khả năng gây nguy hại cho người.

Bản Cáo trạng số 48/CT-VKSQN-P2 ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc T về tội “Giết người” quy định tại điểm n, l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội“Giết người” là đúng, không oan vì bị cáo đã có hành vi nối dây điện có hiệu điện thế 220V móc trực tiếp vào cổng sắt nhà chị Trần Thị Minh H1 nhằm mục đích cho chị H1 bị điện giật. Bị cáo khẳng định lời khai tại cơ quan Công an là chính xác, khách quan, không bị đe dọa ép buộc và có sự tham gia của Luật sư bào chữa.

Bị hại chị Trần Thị Minh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp lời khai của các bị cáo, chị đồng ý với nội dung truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Hoàng Ngọc T. Về trách nhiệm dân sự, chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về trách nhiệm hình sự, chị đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với kết luận điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T từ 8 đến 9 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 25/12/2022; đề nghị xử lý án phí, vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát áp dụng truy tố bị cáo Luật sư không ý kiến gì. Về hình phạt đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì nhận thức pháp luật hạn chế; hành vi của bị cáo thể hiện sự bồng bột, không hiểu biết về nguồn điện; khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt; bị hại trước đó xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xem xét xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận và nói lời nói sau cùng gửi lời xin lỗi đến gia đình và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị hại vắng mặt có đơn xin xử án vắng mặt; người làm chứng đã được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng việc xét xử vì họ đã được trình bày quan điểm trong quá trình điều tra, nên căn cứ Điều 292; 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án xét xử vắng mặt những người này.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, Luật sư bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; bị cáo khẳng định lời khai nhận của mình trong quá trình điều tra là đúng sự thật, thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội danh đã nêu và viện dẫn trong Cáo trạng là đúng người, đúng tội; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định số 22 ngày 03/01/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã được làm rõ tại phiên tòa, do đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 40 phút, ngày 23/12/2022, tại gia đình chị Trần Thị Minh H1 (sinh năm 1975, trú tại tổ D, khu T, thị xã Đ), xuất phát từ mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm, Hoàng Ngọc T đã có hành vi dùng một đầu dây điện đấu nối vào hiệu điện thế 220V, còn một đầu đấu nối vào móc bằng kim loại rồi móc lên cánh cổng bằng kim loại của gia đình chị H1, mục đích để chị H1 bị điện giật. Ngoài ra, việc đấu nối điện trực tiếp vào cổng sắt của bị cáo còn có thể gây nguy hiểm cho những người khác khi chạm vào cổng nhà chị H1.

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Ngọc T đã cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm n, l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã nêu và viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Chỉ vì xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong quan hệ tình cảm, mà bị cáo đã có hành vi dùng dây điện đấu nối trực tiếp vào cổng sắt của nhà chị H1 với mục đích làm cho chị H1 bị điện giật, bị cáo nhận thức rõ được việc nối điện trực tiếp vào cổng sắt như vậy không những chỉ một mình chị H1 khi mở cổng sẽ bị điện giật, mà còn có thể làm nhiều người khác khi chạm vào cổng sắt đều sẽ bị điện giật và có thể gây tử vong, việc chị H1 không bị điện giật là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ và còn có khả năng làm chết nhiều người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, gây bất bình trong dư luận, đòi hỏi phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng răn đe, giáo dục trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

• Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

• Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên

toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại

tại giai đoạn điều tra đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên xem xét áp

dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, hành của bị cáo thực hiện thuộc

trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ

luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại là chị Trần Thị Minh H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 áo khoác màu đen; 01 đôi giầy lười màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 quần màu đen; 01 gói niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q bên trong có các đoạn dây diện; 01 kìm bằng kim loại; 01 bút thử điện; 01 bảng điện; 02 cuộn băng dính màu đen; 01 cuộn băng dính màu xanh. Đây là những công cụ, phương tiện phạm tội và các tài sản thu của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc T 8 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 áo khoác màu đen; 01 đôi giầy lười; 01 đôi dép màu đen; 01 quần màu đen; 01 gói niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q bên trong có 04 đoạn dây diện và 01 sợi dây kim loại màu trắng; 01 kìm bằng kim loại; 01 bút thử điện; 01 bảng điện; 02 cuộn băng dính màu đen; 01 cuộn băng dính màu xanh.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 80 ngày 23/5/2023, của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

4. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Hoàng Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ