- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Thị Hg 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (năm) năm 08 (tám) tháng, thời gian thử t…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày 01-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Thị H, sinh năm 1988 tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Kim S và bà Đặng Thị H; chồng: Không có, con: Có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bị hại: Ông Trần Văn D, sinh năm 1963, nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Phạm Thị H nảy sinh ý định trộm cắp trâu của người dân chăn thả tại khu vực cánh đồng Vạt thuộc địa phận thôn Hương Đình, xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện ý định, khoảng 14 giờ ngày 25/9/2023, H đi bộ đến khu vực cánh đồng Vạt thì phát hiện có 01 con trâu, loại trâu cái, màu lông đen của gia đình ông Trần Văn D đang chăn thả, không có người trông giữ. H lén lút đi đến cầm dây buộc mũi trâu rồi dắt trâu ra khỏi khu vực cánh đồng sau đó đi tìm người để bán. Khi H dắt trâu đến đoạn đường DH25 thuộc địa phận tổ dân phố Bảo Chúc, thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị Công an huyện Tam Dương phát hiện bắt quả tang. Cơ quan điều tra tiến hành cân khối lượng con trâu, xác định con trâu nặng 470kg, sau đó bàn giao cho ông D quản lý.
Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tam Dương kết luận: 01 con trâu, loại trâu cái, màu lông đen, trọng lượng 470kg tại thời điểm trộm cắp có trị giá 21.500.000đồng.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 con trâu, loại trâu cái, màu lông đen, trọng lượng 470kg, xác định là tài sản hợp pháp của gia đình ông Trần Văn D, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 60/QĐ-VKSTD ngày 17/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Phạm Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại không bào chữa và tranh luận gì và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Tam Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 25/9/2023, tại khu vực cánh đồng Vạt thuộc địa phận thôn Hương Đình, xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, lợi dụng sơ hở của ông Trần Văn D, bị cáo Phạm Thị H đã lén lút trộm cắp một con trâu trị giá 21.500.000đồng của ông Trần Văn D. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...””.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, là người có sức khỏe nhưng không chịu khó lao động, mà lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa bị hại tiếp tục đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn và đang phải nuôi con nhỏ, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đối với 01 con trâu loại trâu cái, màu lông đen, trọng lượng 470kg, xác định là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn D, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D. Sau khi nhận lại tài sản, ông D không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạm Thị Hg 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (năm) năm 08 (tám) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Dương; - Chi cục THADS huyện Tam Dương; - Công an huyện Tam Dương; - UBND xã Đồng Ích - LT - VP; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Hoàng |