- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN THANH BÌNH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Thanh B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày: 25-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phạm Kim Tuyến
2/ Ông Phan Văn Tao
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2023/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thanh B, sinh năm 1989, tại tỉnh Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú trước khi bị truy nã: Thôn X, xã Đức Lập (Nay là xã Tân Dân), huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Hộ khẩu thường trú khi bị bắt truy nã: Thôn V, xã Ninh Sơn, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: L, Tổ T, Khu phố 1, phường Thới An, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Trọng H và bà Đào Thị C; Vợ: Nguyễn Thị C; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Nhân thân: Không
Bị cáo bị giữ, giam từ ngày 16/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa – T30, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Ông Đỗ Duy A, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: A đường Ngô Gia Tự, Phường 3, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: B, Tổ 14, phường Hiệp Thành, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Cao Hồng Nghĩa, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 1/22B, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Bà Nguyễn Thị Cúc, sinh năm 1992 (Có mặt)
Địa chỉ: L9, tổ 12, khu phố 1, phường Thới An, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh.
* Người làm chứng:
1/ Ông Trần Minh Lên, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xã Ea Ngai, huyện Krông Busk, tỉnh Đắk Lắk.
2/ Ông Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thị trấn Tân Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh B Phước.
3/ Ông Nguyễn Thanh Tuấn, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 432/12, Ấp 3, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Ông Nguyễn Ngọc Hây, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 12, Ấp 3, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
5/ Ông Trần Thanh Tùng, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Phú Hiệp, xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/10/2011, Trần Thanh B (Là tài xế xe xúc của trạm trộn bê tông công ty Sài Gòn RDC, thuộc Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh) dẫn theo 02 thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) cởi trần vào trạm trộn bê tông công ty Sài Gòn RDC để sửa máy xúc. Thấy vậy, anh Đỗ Duy An là giám sát phụ trách sản xuất tại trạm trộn bê tông của Công ty Sài Gòn RDC nhìn thấy nên đã yêu cầu B dẫn 02 thanh niên trên ra khỏi trạm, nếu muốn vào trạm thì phải mặc đồ bảo hộ nhưng B không đồng ý và cãi nhau với anh An và được mọi người can ngăn nên An và B tiếp tục đi làm việc của mình.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi anh An và anh Trần Minh Lên đang ở trên phòng vận hành trong trạm bê tông thì B đi lên gặp và kêu anh An ra ngoài nói chuyện thì anh An cũng đồng ý.
Theo đó, anh An và B cùng đi cầu thang từ trên phòng vận hành xuống đất, anh An đi trước còn B đi sau (Cầu thang hẹp chỉ vừa đủ cho 01 người đi). Khi anh An vừa đi xuống hết cầu thang thì B lấy một con dao (Thủ sẵn trong người) ra và vung dao chém từ phía sau tới, theo hướng từ trên xuống trúng một nhát vào phía sau đỉnh đầu bên trái của anh An gây thương tích. Lúc này, anh An bỏ chạy thì B tiếp tục đuổi theo anh An chém 02 nhát trúng vào bả vai bên trái và bả vai bên phải của anh An.
Thấy vậy, một số người làm ở trạm trộn bê tông can ngăn thì B cầm theo con dao chạy thẳng ra bên ngoài trạm bê tông rồi leo lên xe của một người phụ nữ (Chưa rõ nhân thân lai lịch) chạy thoát khỏi hiện trường. Riêng anh An được một số người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện nhân dân 115.
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã Nhơn Đức và Công an huyện Nhà Bè tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập hồ sơ giải quyết theo thẩm quyền. Khi triệu tập người bị hại anh Đỗ Duy An khai nhận không nhìn thấy rõ B sử dụng hung khí gì để tấn công mình.
Quá trình điều tra các nhân chứng Trần Minh Lên và Nguyễn Văn Hải cùng làm việc tại trạm trộn bê tông RDC xác định: Anh Lên và anh Hải nhìn thấy B sử dụng 01 con dao màu đen, dài khoảng 30cm – 35cm để chém gây thương tích cho anh An.
Các nhân chứng Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Ngọc Hây, Trần Thanh Tùng (Cũng làm việc tại trạm trộn bê tông RDC) xác định: Anh Tuấn, anh Hây và anh Tùng nhìn thấy B rượt đuổi chém anh An nhưng không nhìn rõ B sử dụng hung khí gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Cao Hồng Nghĩa (Nhà ở gần trạm trộn bê tông) xác định: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 11/10/2011, B có đến nhà của anh Nghĩa để hỏi mượn 01 con dao, nói là để làm thịt con Ngan (Vịt xiêm) để nhậu. Do quen biết nên anh Nghĩa đã lấy cho B mượn 01 con dao bằng kim loại (Loại dao chặt xương), màu đen, dài khoảng 30cm - 35cm, rộng khoảng 10cm, cán bằng sắt. Đến sáng hôm sau, anh Nghĩa hay tin B dùng dao chém gây thương tích cho anh An tại trạm trộn bê tông trên. Anh Nghĩa không biết B có sử dụng con dao mượn của mình để chém anh An hay không và sau khi xảy ra sự việc, B đã bỏ trốn, không trả lại con dao cho anh Nghĩa. Tại phiên tòa anh Cao Hồng Nghĩa cũng xác định không yêu cầu B phải trả lại con dao đã mượn.
Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, kết hợp lời khai của người bị hại cùng lời khai của những người có liên quan và căn cứ kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y đối với anh Đỗ Duy An. Ngày 13 tháng 11 năm 2012, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam và quyết định truy nã đối với Trần Thanh B. Đến ngày 16/12/2022 thì bắt được Trần Thanh B.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè, Trần Thanh B khai nhận: Trong quá trình làm việc tại trạm trộn bê tông RDC, B và anh An có xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau nhưng đều được mọi người can ngăn. Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 11/10/2011, B có dẫn 02 người (không phải là công nhân trong trạm trộn bê tông RDC) vào trạm trộn bê tông RDC để sửa máy xúc nhưng không mặc đúng trang phục quy định thì anh An có nhắc nhở, chấn chỉnh. Lúc này, hai bên xảy ra cự cãi thì được mọi người can ngăn. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, B nghĩ đến việc cự cãi lúc chiều nên đi lên phòng vận hành của trạm trộn bê tông công ty Sài Gòn RDC gọi anh An đi xuống dưới nói chuyện (phòng vận hành cách mặt đất khoảng 03m) thì anh An đồng ý và đi ra khỏi phòng, đi cầu thang xuống dưới đất. Lúc này, B nhìn thấy ở hành lang bên ngoài phòng vận hành có 01 thanh sắt (có đặc điểm: Là loại sắt chữ V, được dùng để chọc bê tông thí nghiệm, dài khoảng 50cm, bề rộng 01 cạnh chữ V là khoảng 07cm, có một đầu thanh sắt (chiều dài khoảng 15cm) được quấn bằng dây vải và dây cao su, 01 đầu thanh sắt còn lại (chiều dài khoảng 35cm) đã được cắt bỏ 01 cạnh chữ V, chỉ còn lại 01 cạnh chữ V, được dùng để chọc bê tông thí nghiệm lâu ngày nên bị bào mòn làm phần đầu sắc nhọn và 02 mép sắc) để trong 01 cái thùng nhựa nên đã dùng tay phải nhặt lên, mục đích để đánh anh An. Do cầu thang hẹp, chỉ vừa 01 người đi nên anh An đi trước, còn B cầm thanh sắt đi sau. Khi anh An vừa đi xuống hết cầu thang (lúc này B vẫn còn đứng trên bậc thang thứ 2, tính từ dưới lên) thì B dùng tay phải cầm vào đầu thanh sắt được quấn bằng dây vải, cao su và sử dụng phần sắc nhọn của thanh sắt chém theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào phía sau đỉnh đầu bên trái của anh An gây thương tích. Lúc này, anh An bỏ chạy thì B tiếp tục đuổi theo, dùng thanh sắt chém trúng 02 nhát vào bả vai bên phải và bả vai bên trái anh An. Sau đó B tiếp tục đuổi theo anh An khoảng 15m – 20m nữa, tiếp tục dùng thanh sắt chém về phía anh An, nhưng không trúng. Khi anh An bỏ chạy ra khỏi cổng trạm trộn bê tông của Công ty Sài Gòn RDC thì B cũng tẩu thoát ra phía cổng trạm và đi nhờ xe 01 người phụ nữ (Không rõ lai lịch) tẩu thoát khỏi hiện trường. B không có quan hệ gì với người phụ nữ này. Riêng thanh sắt B sử dụng để chém anh An thì B đã quăng bỏ tại vị trí cách cổng bảo vệ của trạm trộn bê tông công ty Sài Gòn RDC khoảng 02m. Về việc mượn con dao của anh Cao Hồng Nghĩa: Trước khi xảy ra sự việc khoảng 5-7 ngày, B có đến nhà mượn của anh Cao Hồng Nghĩa 01 con dao để về làm thịt con Ngan (Vịt xiêm) làm mồi nhậu nhưng do thời gian đã lâu nên B không nhớ được đặc điểm con dao. Sau khi sử dụng con dao trên để làm mồi nhậu xong thì B đã làm mất con dao ở đâu không rõ, B không sử dụng con dao trên để chém gây thương tích cho anh An.
Tại Bản kết luận giám định pháp y, số 1280/TgT.11 ngày 05/12/2011 của Trung tâm pháp y – Sở y tế TP. Hồ Chí Minh kết luận:
- Vết thương sọ não gây rách da, vỡ sọ tụ máu ngoài màng cứng đỉnh trái đã được điều trị nội bảo tồn, hiện còn sẹo màu nâu, lõm nhẹ kích thước 10x0,2cm.
- Hai vết thương phần mềm gây rách da, cơ tạo sẹo màu nâu lồi nhẹ kích thước 11x0,8cm và 8,7x0,6cm tại hai bả vai.
Mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên là 27%.
Ngày 13/02/2023 Trung tâm pháp y – Sở y tế TP. Hồ Chí Minh có văn bản số 1280/TgT.11 giải thích:
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1280/TgT.11 của Đỗ Duy An, sinh năm 1986:
- Vết thương sọ não có tỉ lệ 23% (hai mươi ba phần trăm).
Vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm tính mạng nếu không cấp cứu kịp thời.
- Hai vết thương phần mềm có tỉ lệ 02% (hai phần trăm) mỗi vết.
Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-NB ngày 29 tháng 6 năm 2023 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Thanh B từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Vật chứng của vụ án: Không thu giữ được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Cúc là vợ của bị cáo B đã bồi thường cho người bị hại Đỗ Duy An 50.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại.
Anh Đỗ Duy An đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Cao Hồng Nghĩa không yêu cầu bị cáo B phải trả lại con dao đã mượn.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, bị cáo cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức hình phạt nhẹ để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện Nhà Bè, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Trong vụ án này ngày 22/8/2023, Tòa án đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 09/2023/HSST-QĐ để điều tra làm rõ các vấn đề không thể bổ sung tại phiên tòa được trong đó có nội dung xác định hành vi của Trần Thanh B dùng hung khí tấn công vào vùng trọng yếu của cơ thể người bị hại có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” hay không. Tuy nhiên ngày 08/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã ban hành Công văn số 11/CV-VKS-NB giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Thanh B như nội dung bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-NB ngày 29 tháng 6 năm 2023 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Trần Thanh B thừa nhận chỉ vì mâu thuẫn nhỏ không do lỗi của người bị hại nhưng do không kìm chế được bản thân nên vào ngày 11/10/2023 chính bị cáo đã dùng hung khí tấn công vào đầu, bả vai gây thương tích cho anh Đỗ Duy An với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%.
Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y – Sở y tế TP. Hồ Chí Minh và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Thanh B đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo Trần Thanh B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Trần Thanh B là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi nhưng do tính côn đồ và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an chung. Sau khi phạm tội bị cáo lại trốn truy nã.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tôn trọng pháp luật và để phòng ngừa chung.
Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ hối cải, gia đình bị cáo đã thay bị cáo khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về việc xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Trần Thanh B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Trần Thanh B 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.
2. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Căn cứ vào các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND.TP.HCM; - VKSND huyện Nhà Bè; - Chi cục THADS huyện Nhà Bè; - Thi hành án HS huyện Nhà Bè; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Bị cáo; - Người liên quan; - Trại tạm giam Chí Hòa, T30; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |