- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đá cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 63/2023/HS-PT Ngày: 27 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán:
Ông Dương Hùng Quang
Ông Nguyễn Trọng Quế
- Thư ký phiên toà:Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ. do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HS-ST ngày 10/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ., Sinh năm 1979; Tên gọi khác: Cu Đ.; Giới tính: nam; Nơi sinh: tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: thường trú tại ấp Rạch Chèo, xã Rạch Chèo, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tạm trú tại khóm 6B, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: lớp 6/12; Con ông: Nguyễn Văn Tẩy, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thuận, sinh năm 1954 (đã chết); Anh chị em ruột: Có 07 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất 1985; Họ và tên vợ: 04 người vợ đã ly hôn, vợ hiện tại tên Trần Thị Quyên; Con ruột: gồm có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án: Có 02 tiền án. Bản án số: 06/2016/HSST ngày 07/01/2016 Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phạt 01 năm tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 08/8/2016, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích. Tại bản án số: 28/2020/HSST ngày 01/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/12/2021, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: 12 tiền sự:
- Vào năm 1999, bị đưa vào Cơ sở giáo dục “Bến Giá” 24 tháng về hành vi “gây rối trật tự công cộng”;
- Năm 2002, bị đưa vào Cơ sở giáo dục “Cồn Cát” 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- Năm 2004 tiếp tục bị đưa vào Cơ sở giáo dục “Cồn Cát” (lần 2) 24 tháng do trong quá trình chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục năm 2002 vi phạm kỷ luật;
- Năm 2008 bị đưa vào Cơ sở giáo dục “Cồn Cát” 24 tháng về hành vi Đ.nh nhau, đập phá tài sản, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác, gây rối trật tự công cộng;
- Năm 2012 bị đưa vào Cơ sở giáo dục “Phú Hòa” 24 tháng về hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác, gây rối trật tự công cộng;
Đã chấp hành xong các biện pháp hành chính nêu trên.
- Ngày 06/02/2015 bị Công an huyện Phú Tân xử phạt 3.700.000 đồng về hành vi “Xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác và Cố ý làm hư hỏng tài sản”, chưa nộp phạt;
- Ngày 06/04/2015 bị Công an xã Rạch Chèo xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đ.nh nhau”, chưa nộp phạt;
- Ngày 03/01/2017 bị Công an xã Rạch Chèo xử phạt 300.000 đồng về hành vi “Xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác”, chưa nộp phạt;
- Ngày 03/07/2017 bị Công an xã Rạch Chèo xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đ.nh bạc trái phép”, chưa nộp phạt;
- Ngày 18/09/2017 bị Công an xã Rạch Chèo xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt;
- Ngày 23/9/2020 bị Công an xã Rạch Chèo xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt;
- Ngày 23/6/2022 bị Công an thị trấn Sông Đốc xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đ.nh bạc trái phép”, đã nộp phạt.
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ. bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/02/2023, tạm giam từ ngày 11/02/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại: Ông Trương Minh Giào, sinh năm 1981, cư trú tại ấp Rẩy Mới, xã Phong Điền, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Không triệu tập).
Chị Trần Thị Quyên, sinh năm 1982. Nơi cư trú: khóm 6B, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 31/01/2023 anh Trương Minh Giào uống cà phê tại quán cà phê “Đất Sài Gòn”, khóm 4, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Nguyễn Văn Đ. đi cùng vợ là chị Trần Thị Quyên chạy xe ngang qua thấy Trương Minh Giào nên dừng xe lại, đi vào trong để đòi số tiền 40 triệu đồng do Trương Minh Giào thiếu. Thấy Đ. đi vào, anh Giào đi qua bàn của anh Đặng Văn Bo ngồi để nói chuyện với Đ.. Đ. đi vào ngồi cùng bàn, đối diện với anh Giào. Đ. nói “rồi tiền thiếu tôi ông tính sao”. Anh Giào nói “mày chạy đi lòng vòng, 02 tiếng sau quay lại tao trả”. Nguyễn Văn Đ. nói “tôi không đi đâu hết, đi cho ông trốn hả gì”. Anh Giào và Đ. nói chuyện qua lại khoảng 05 phút, Đ. nói “ông lớn mà ông nói dóc em út, lỡ em út nó hỗn, nó Đ.nh ông rồi sao”, Trương Minh Giào đứng dậy nói “mày ngon mày Đ.nh tao”. Đ. đứng dậy dùng tay phải lấy ly thủy tinh trên bàn (ly đựng cà phê), Đ.nh trúng vào vùng thái dương bên trái gây thương tích cho anh Giào. Sau khi sự việc xảy ra, anh Giào đến Phòng khám đa khoa khu vực Sông Đốc khâu vết thương và đến Công an thị trấn Sông Đốc trình báo (Bút lục: 43-106).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 20/TgT-23 ngày 02/02/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Cà Mau, kết luận: 01 mảng sưng nề và vết thương vùng thái dương trán trái, kích thước 07cm x 4,5cm, tỷ lệ 03%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Không xếp tỷ lệ phần trăm gồm: 03 vết xước da vùng trán trái, 01 vết xước da vùng má trái, 01 vết xước da vùng góc hàm trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế là: 03% (ba phần trăm). (Bút lục: 21-24).
Vật chứng, đồ vật của vụ án hiện đang tạm giữ: 01 (một) ly thủy tinh vỡ thành nhiều mãnh thủy (hung khí Đ. dùng để Đ.nh anh Giào gây thương tích); 01 (một) áo sơ mi trắng sọc đen, trên áo có dính chất màu đỏ (giống máu), áo có tem màu đen có chữ VALENTINO CHRISTY PARIS (áo của anh Giào lúc bị Đ. Đ.nh gây thương tích). (Bút lục: 46-47, 87,107).
Trách nhiệm dân sự: anh Giào không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 54 Bộ luật hình sự; Căn cứ các Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự
Phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/4/2023, bị cáo Nguyễn Văn Đ. kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo trình bày, do cha mẹ mất không ai trông coi nhà, không ai thờ cúng, nên xin giảm án về sớm để lo lắng gia đình. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận: Khoảng 08 giờ ngày 31/01/2023, khi bị cáo chạy xe chở vợ là Trần Thị Quyên ngang quán cà phê “Đất Sài Gòn” thì nhìn thấy Trương Minh Giào là người nợ bị cáo số tiền 40.000.000 đồng, nên bị cáo dừng xe lại, đi vào trong quán để đòi số tiền trên. Bị cáo đi vào ngồi cùng bàn, đối diện với anh Giào và yêu cầu anh Giào trả số tiền trên thì giữa bị cáo và anh Giào phát sinh mâu thuẩn, nên bị cáo dùng tay phải lấy ly thủy tinh trên bàn (ly đựng cà phê), Đ.nh trúng vào vùng thái dương bên trái gây thương tích cho anh Giào với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 3%, bởi bị cáo đã bị kết án 2 lần nhưng chưa được xóa án tích, trong lần kết án thứ 2 bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm. Do đó với các tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do về thân thể của công dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo gây thương tích cho người khác là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, xét thấy: Quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất của vụ án, nhân thân bị cáo, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình, tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, gia đình bị cáo có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là tương xứng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Với các tình tiết nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Đ.; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ. 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 02 năm 2023.
3. Bị cáo Nguyễn Văn Đ. phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời; - Công an huyện Trần Văn Thời; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Út |