vanban.org

Bản án 63/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 12/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Anh T.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về hình phạt. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Anh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HS-PT
Ngày: 12 – 8 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Tiến Hiệp

Ông Nguyễn Văn Nhân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Vang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2023/HSPT ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Võ Anh T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Võ Anh T (tên gọi khác: Không), sinh năm 2002 tại Bình Phước; nơi đăng ký thường trú khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ A, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1978; bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 2012; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2022 đến ngày 18/01/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Công Hiền K, sinh năm 2000; trú tại khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1978; trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 21/12/2022, do mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền nên chị Nguyễn Thị Mỹ T1 xảy ra cự cãi với bà Đỗ Thị H tại chỗ bán rau của chị T1 ở khu vực chợ Đ. Lúc này, Nguyễn Công H1 K là người làm cùng với chị T1 thấy vậy nên xô bà H làm ngã xuống đường. Sau đó, bà H về kể lại cho Võ Anh T (con trai ruột bà H) nghe sự việc trên.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, do bực tức về chuyện bà H bị K đánh nên T chạy về nhà lấy 01 khẩu súng bắn đạn cao su do T mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) qua mạng xã hội và bình xịt hơi cay với mục đích đi tìm K đánh trả thù cho bà H. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 93P2-481.69 tìm K nhưng không thấy nên chạy lên khu vực tượng đài liệt sỹ thuộc phường T, thành phố Đ uống nước. Tại đây, T gặp Ngô Hồng S đang ngồi uống nước cùng với Trang Anh K1, Ngô Hồng P, Bùi Tiến L và Phan Quốc D. T kể chuyện mẹ mình bị đánh cho S, K1, P, L, D nghe và nói “Nhờ mấy anh em xuống phụ em một tay, lỡ có gì thì phụ em". Khi nghe T nói vậy thì tất cả hiểu là đi tìm K đánh trả thù cho mẹ T nên đồng ý. Sau đó, L chở T bằng xe mô tô biển số 93P2-481.69 đi xuống tiệm rau tại đường V tìm K nhưng không thấy nên quay lại chỗ cả nhóm đang ngồi. Đến khoảng 01 giờ ngày 22/12/2022, tất cả cùng nhau đi tìm K, lúc này T cầm theo 01 khẩu súng bắn đạn cao su và 01 bình xịt hơi cay, S mở cốp xe của K1 lấy 01 cây gậy ba khúc cất sẵn trong người, K1 lấy 02 cây gậy ba khúc trong cốp xe ra để giấu vào trong tay áo rồi cùng nhau đi tìm K. L điều khiển xe môtô biển số 93P2-481.69 chở T, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ, biển số 65K1-308.45 chở K1 còn D điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150 màu trắng, biển số 93P2-289.59 chở S. Khi đến khu vực đường V, T nhảy xuống xe và nói với K “Tại sao mày đánh mẹ tao” đồng thời cầm bình xịt hơi cay xịt về phía Khỏe. Khỏe cầm con dao ở gần đó để chống trả thì T đưa bình xịt hơi cay cho L rồi rút súng trong người ra nhắm và bắn 01 phát súng ra 03 viên đạn trúng vào đùi và bắp chân của K. Lúc này do hết đạn nên T chạy ra lấy bình xịt hơi cay chỗ L chạy vào xịt tiếp về phía Khỏe. S cầm 01 cây gậy ba khúc, K1 cầm 01 gậy ba khúc và đưa cho L 01 cây gậy ba khúc để chạy vào hỗ trợ cho T. Do thấy K cầm cây dao dài và đứng sát vào tường để tự vệ nên nhóm của T không dám đến gần. Lúc này, S lấy 02 cây cán dù bằng kim loại ở gần đó đưa cho T một cây để cùng nhau tiếp tục lao vào đánh K, còn P, L và D ngồi ở trên xe đợi sẵn để chờ. Khi thấy người dân xung quanh tập trung đông nên tất cả lên xe bỏ chạy về lại hướng tượng đài liệt sỹ Đ.

Đến ngày 24/12/2022, Võ Anh T, Ngô Hồng S, Ngô Hồng P, Bùi Tiến L, Trang Anh K1 và Phan Quốc D đến Công an thành phố Đ đầu thú và khai báo toàn bộ nội dung sự việc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã quyết định:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Võ Anh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Anh T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, bị cáo được khấu trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 24/12/2022 đến ngày 18/01/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 05/5/2023, bị cáo Võ Anh T làm đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như gia đình khó khăn; hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội; các bị cáo gây án với lỗi cố ý nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, bị cáo gây thiệt hại không lớn, đã khắc phục, chưa gây cản trở cho hoạt động của cơ quan, tổ chức cũng như hoảng loạn trong dân cư; thời gian tạm giam cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Anh T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình xét xử sơ thẩm bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không ảnh hưởng đến việc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục phiên tòa xét xử bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án của Tòa án cấp sơ thẩm quyết định. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Các bị cáo tuy chỉ nhằm mục đích đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Công H1 Khỏe nhưng đã dùng hung khí nguy hiểm là khẩu súng bắn đạn cao su, bình xịt hơi cay, gậy ba khúc và cán dù bằng kim loại tấn công anh K, gây náo loạn khu vực chợ Đ; hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực chợ Đ, tỉnh Bình Phước. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Anh T cùng đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; anh Nguyễn Công Hiền K làm đơn bãi nại bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật; hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, một mình chăm lo cho 04 người, cha bị liệt không tự lao động được, mẹ thường xuyên đau ốm cùng 02 người em còn nhỏ (sinh năm 2008 và 2012) nên không có thu nhập có xác nhận của chính quyền địa phương. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2008 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và sửa Bản án sơ thẩm số 57/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân thành Phố Đồng Xoài về phần hình phạt của bị cáo Võ Anh T.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Võ Anh T không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Anh T.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về hình phạt.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Anh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Võ Anh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 12/8/2023).

Giao bị cáo Võ Anh T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải cháp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. 3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Anh T không phải chịu.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ