- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trương Thị V với anh Hồ Đăng H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị V với anh Hồ Đăng H; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v Ly hôn giữa chị Trương Thị V với anh Hồ Đăng H |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Na.
2. Bà Trần Thị Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn 7, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Tổ 26 X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Đăng H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn 7, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26-12-2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị V trình bày:
Chị và anh Hồ Đăng H sống chung với nhau năm 2005, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có con trước khi kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng ở chung với cha mẹ chồng. Ngày 20-3-2008, cả hai đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 2010, vợ chồng đăng ký thường trú tại xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ năm 2018, vợ chồng vào làm việc tại thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh do anh H không chăm lo vợ con, hay uống rượu bia rồi gây gỗ, đe dọa vợ con nên từ năm 2021 đã không chung sống với nhau. Đầu năm 2023, anh H về ở với cha mẹ đẻ tại xã Đ. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con: Vợ chồng có hai người con chung là cháu Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 06-02-2006 và cháu Hồ Thị Thụy K, sinh ngày 06-01-2012. Từ khi vợ chồng không chung sống, hai người con ở với chị và học tập tại thành phố Đà Nẵng. Chị yêu cầu giải quyết nuôi con theo quy định của pháp luật, đề nghị giao cả hai người con cho chị trực tiếp nuôi do cả hai có nguyện vọng ở với chị, đang học tập ổn định.
Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu cấp dưỡng gì khác.
Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Hồ Đăng H trong thời hạn quy định không gửi hoặc nộp văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Biên bản xác minh ngày 22-3-2023, ông Hồ Đăng L và bà Lê Thị H là cha, mẹ đẻ của anh H cung cấp thông tin như sau: Anh Hồ Đăng H đăng ký thường trú tại xã Đ và đang ở chung với ông, bà.
Theo Biên bản ghi nguyện vọng con chưa thành niên ngày 07-4-2023, các cháu Hồ Thị Bảo A và Hồ Thị Thụy K có nguyện vọng ở với mẹ.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Hồ Đăng H thông qua ông Hồ Đăng L (cha đẻ của anh H) để anh H trình bày ý kiến và tham gia hòa giải vào các ngày 07-4-2023 và ngày 25-4-2023 nhưng anh H vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.
Ngày 25-4-2023, Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho anh H vào ngày 26-4-2023.
Ngày 25-4-2023, chị Trương Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ngày 26-4-2023, anh Hồ Đăng H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị căn cứ Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Trương Thị V và anh Hồ Đăng H kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống có hai người con chung là cháu Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 06-02-2006 và cháu Hồ Thị Thụy K, sinh ngày 06-01-2012.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị V ly hôn; về con chung giao cháu A và cháu K cho chị V trực tiếp nuôi đến khi thành niên; về cấp dưỡng không có yêu cầu nên không xem xét; tài sản, nghĩa vụ không có yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giai quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Hồ Đăng H có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị V và anh Hồ Đăng H tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20-3-2008. Thời điểm đăng ký, cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở yêu cầu nguyên đơn; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn, thấy rằng:
Chị V yêu cầu ly hôn với lý do anh H hay uống rượu bia và gây gỗ, đe dọa vợ con; vợ chồng đã không chung sống từ năm 2021 đến nay. Xét thấy quá trình tố tụng, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng anh H không thực hiện quyền và nghĩa vụ đưa ra ý kiến, tham gia hòa giải. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H có ý kiến về hôn nhân tùy ý kiến của vợ. Chứng tỏ, anh H không có thiện chí, không có nguyện vọng hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ.
Như vậy, vợ chồng đã không có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị Vui ly hôn.
Về con: Anh Hồ Đăng H và chị Trương Thị V có hai người con chung là cháu Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 06-02-2006 và cháu Hồ Thị Thụy K, sinh ngày 06-01-2012, phù hợp chứng cứ là giấy khai sinh.
Xét yêu cầu giải quyết việc nuôi con khi ly hôn, thấy rằng:
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Chị V yêu cầu nuôi cả hai người con sau khi ly hôn. Anh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại đơn đề nghị xét xử vắng mắt có ý kiến việc nuôi con chung theo nguyện vọng của con. Xét điều kiện cả hai cháu hiện tại sinh sống, học tập tại thành phố Đà Nẵng và có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, chấp nhận giao cả hai cháu A và K cho chị V trực tiếp nuôi đến khi thành niên là bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã được phổ biến, giải thích nhưng không có yêu cầu nên không xét.
Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị V với anh Hồ Đăng H; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hồ Thị Bảo A, sinh ngày 06-02-2006 và cháu Hồ Thị Thụy K, sinh ngày 06-01-2012 cho chị Trương Thị V trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi các cháu thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị V phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/00006785 ngày 22-02-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị V đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phong Điền; - CCTHADS huyện Phong Điền; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HNGĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trường |