vanban.org

Bản án 63/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Oanh M. Chị Phạm Thị Oanh M được ly hôn với anh Lê Văn H

Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về con chung: Chị Phạm Thị Oanh M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019, anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Oanh M. Chị Phạm Thị Oanh M được ly hôn với anh Lê Văn H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v:“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đặng Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Khắc Hiệp

Bà Bùi Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại phòng xét xử của Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 367/2021/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HN ngày 12 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Oanh M, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: 110/3 ấp TM, xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Nơi cư trú: 110/3 ấp TM, xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị Oanh M trình bày:

Chị và anh Lê Văn H kết hôn với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hưng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/8/2007. Thời gian sống chung vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Minh Đ, sinh ngày 05/9/2007 và cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau này vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà không giải quyết được. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn H

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng vợ chồng: Không có yêu cầu

- Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019 không yêu cầu anh Lê Văn H cấp dưỡng nuôi con. Chị đồng ý để cháu Lê Tấn Đ, sinh ngày 05/9/2007 cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Oanh M về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, anh Lê Văn H không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố Tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Thị Oanh Muôi. Chị Muội được ly hôn với anh Lê Văn H. Chị Phạm Thị Oanh M không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.

+ Về con chung: Chị Phạm Thị Oanh M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019 anh Lê Văn H không cấp dưỡng nuôi con do chị M không có yêu cầu.

Anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Tấn Đ, sinh ngày 05/9/2007 (theo nguyện vọng của con) chị Phạm Thị Oanh M không cấp dưỡng nuôi con do anh H không có yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Oanh M trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Oanh M vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn” bị đơn anh Lê Văn H có nơi cư trú tại ấp TM, xã MH, huyện P, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Phạm Thị Oanh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Muội theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xét xử vắng mặt anh Lê Văn H là đúng theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H do mai mối nhưng có tìm hiểu nhau mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/8/2007. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên tinh thần tự nguyện và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về hôn nhân: Sau khi kết hôn chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H có thời gian sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cãi nhau và bất đồng quan điểm trong cuộc sống không thể hàn gắn được. Theo biên bản xác minh ngày 10/5/2023 của Tòa án đối với ông Lê Văn T là cha ruột của anh Lê Văn H cho biết chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H tiến đến hôn nhân là do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hưng, trong thời gian sống chung thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày không thể hàn gắn được. Anh Lê Văn H đang sống chung với ông và có đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, có đi và về thăm gia đình, nhiều lần ông nhận được Thông báo, giấy triệu tập của Tòa án tống đạt cho anh H, ông có thông báo cho anh H biết và chuyển giao lại đầy đủ, đúng thời gian quy định như đã cam kết. Như vậy, anh Lê Văn H biết việc chị Phạm Thị Oanh M yêu cầu ly hôn với anh tại Tòa án nhưng anh không đến Tòa án theo nội dung đã thông báo, triệu tập chứng tỏ anh Lê Văn H không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng, không muốn vợ chồng hòa giải đoàn tụ với nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phạm Thị Oanh M yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn H là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019 hiện đang sống chung với mẹ, chị M có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, nên để chị M nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật, anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị Oanh M không có yêu cầu.

Cháu Lê Tấn Đ, sinh ngày 05/9/2007 hiện đang sống chung với anh H, nguyện vọng của cháu Đạt muốn sống chung với cha, nên để cháu Đạt cho anh Lê Văn H Hạnh trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật, chị Phạm Thị Oanh M không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê Văn H không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Oanh M trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Phạm Thị Oanh M trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Phạm Thị Oanh M không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Oanh M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định tại Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Oanh M. Chị Phạm Thị Oanh M được ly hôn với anh Lê Văn H

Về nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng: Chị Phạm Thị Oanh M và anh Lê Văn H không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị Oanh M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Quốc V, sinh ngày 17/01/2019, anh Lê Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không có yêu cầu.

Anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Tấn Đ, sinh ngày 05/9/2007 (theo nguyện vọng của con chung) chị Phạm Thị Oanh M không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Oanh M trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Phạm Thị Oanh M trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Oanh M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003045 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;

6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ