- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Huỳnh Thanh H xin được ly hôn với anh Trương Tấn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Thanh H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.
2. Ông Phạm Văn Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/5/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1000/2022/TLST – HNGĐ ngày 05/12/2022 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST– HNGĐ ngày 14/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2023/QĐST – HNGĐ ngày 05/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H Thanh H, sinh năm 1982.
Địa chỉ thường trú: Tổ A, Khu B, xã LĐ, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ cư trú: Quán cà phê, Khu C CĐVD, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn V, sinh năm 1979.
Địa chỉ thường trú: Tổ A, Khu B, xã LĐ, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ cư trú: Quán cà phê, Khu C CĐVD, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.
Chị H có đơn xin vắng mặt; anh V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị H Thanh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tấn V kết hôn với nhau năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LĐ. Trong quá trình chung sống, anh V có những lời lẽ xúc phạm cha mẹ của chị, vợ chồng không có tiếng nói chung. Cuối năm 2017, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên không còn quan tâm đến nhau, không còn tôn trọng nhau. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn xin được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 30/4/2018. Ly hôn, chị xin nuôi cháu H, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có
Về nợ chung: không có.
* Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Tấn V vắng mặt nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành có ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng, về việc xác minh, thu thập các tài liệu chứng cứ vụ án và thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử đều được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh V được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật bảo vệ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận đơn ly hôn của chị H.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 30/4/2018. Đề nghị giao cháu H cho chị H nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Tấn V có hộ khẩu thường trú tại xã LĐ và hiện đang cư trú tại thị trấn LT, huyện LT, tỉnh Đồng Nai nên Tòa án nhân dân huyện Long Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật: Chị H khởi kiện xin được ly hôn và giải quyết vấn đề con chung. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Thành căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ là “Tranh chấp ly hôn, con chung”.
- Chị H Thanh H là nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Anh Nguyễn Tấn V là bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành triệu tập xét xử đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Long Thành vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Nội dụng vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H Thanh H và anh Nguyễn Tấn V tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ, huyện LT, tỉnh Đồng Nai nên được coi là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Theo chị H, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, anh V có lời lẽ xúc phạm cha mẹ của chị. Chị không chịu đựng được nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin được ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tiến hành xác minh tại địa phương thì UBND thị trấn LT không biết tình trạng mâu thuẫn do chị H và anh V không trình báo. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã nhiều lần triệu tập anh V đến làm việc, làm rõ nội dung vụ án nhưng anh V cố tình vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ anh V cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình nữa, nếu có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh V.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 30/4/2018. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã triệu tập anh V đến làm việc nhiều lần nhưng anh V vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề con chung. Vì vậy, giao cháu H cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, do chưa có ý kiến trình bày của anh V nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Về án phí HNGĐ - ST: Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 203, 220, 235, 264, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 9; Điều 51, 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H Thanh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Tấn V.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 30/4/2018.
Giao cháu H cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí HNGĐ – ST: Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên lai thu số 0006609 ngày 01/12/2022.
Chị H, anh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKS ND tỉnh Đồng Nai; - T.H.A dân sự H. Long Thành; - VKS H. Long Thành; - Các đương sự; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Trung |