- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác nhận cha cho con giữa anh Long và chị Anh"
- Tòa quyết gì? thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L Bản án số: 63/2023/HNGĐ - ST Ngày: 27-7-2023 V/v:“Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Loan;
+ Bà Mai Lương Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
thành phố Đ, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên
tòa: Bà Cao Thị Bích Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L,
xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 340/2023/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Dƣơng Hoàng L, sinh năm: 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Số 41/4, hẻm N, Phường E, thành phố Đ, tỉnh L.
Bị đơn: Chị Hà Thị Phƣơng A, sinh năm: 1981 (có mặt).
Địa chỉ: Số 16, đường H, Phường D, thành phố Đ, tỉnh L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dƣơng Thanh L, sinh năm: 1964
Địa chỉ: Số 281/2, đường Phan Đình Phùng, Phường 2, thành phố Đ, tỉnh L
(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn anh Dương
Hoàng L thì: Anh và chị Hà Thị Phương A quen biết năm 2018, trong thời gian đó chị Anh đã sống ly thân với anh Dương Thanh L, nhưng chưa làm thủ tục ly hôn. Thời gian quen nhau giữa anh và chị Phương A có mối quan hệ tình cảm với nhau và chị A đã mang thai con của anh, đến ngày 27/3/2019 chị A sinh được 01 bé gái tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh L, anh chị đã tự đặt tên cho con là Dương Hà Minh C. Nhưng do thời điểm chị A mang thai con của anh thì chưa giải quyết xong thủ tục ly hôn với anh Dương Thanh L, vì vậy anh chị chưa làm được thủ tục khai sinh cho con gái được. Ngày 01/11/2018 giữa chị Anh và anh Dương Thanh L đã giải quyết xong thủ tục ly hôn theo quyết định CNSTT số 441/2018/QĐST - HNGĐ ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh L.
Để có căn cứ làm thủ tục khai sinh cho con gái anh theo đúng quy định. Nay
anh đề nghị Tòa án giải quyết xác định bé gái do chị Phương A sinh ngày 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 của Bệnh viện đa khoa tỉnh L là con gái của anh theo như kết quả xét nghiệm AND ngày 20/5/2019 của Viện sinh học phân tử LOGI.
Theo bản tự khai và trình bày của bị đơn chị Hà Thị Phương A thì: Chị
thống nhất như trình bày của anh Dương Hoàng L. Giữa chị và anh Dương Thanh L kết hôn vào năm 2001, cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2010 đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân với anh L thì đến năm 2018 giữa chị và anh L có mối quan hệ tình cảm với nhau và chị đã mang thai con của anh L. Đến ngày 01/11/2018 chị và anh Dương Thanh L đã giải quyết xong thủ tục ly hôn theo quyết định CNSTT số 441/2018/QĐST - HNGĐ của Tòa án nhân dân thành phố Đ, chị xác nhận bé gái do chị sinh ra vào ngày 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L là con gái của anh Dương Hoàng L. Để có căn cứ làm thủ tục khai sinh cho con gái chị, nên đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của anh Dương Hoàng L, xác nhận anh Dương Hoàng L là cha đẻ của con gái chị như đã nêu trên.
Theo trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương
Thanh L thì: Anh xác nhận bé gái do chị Hà Thị Phương A sinh ra vào năm 2019 không phải là con anh. Vì thời điểm đó anh và chị Phương Anh đã sống ly hôn. Nay anh Dương Hoàng L yêu cầu xác nhận cha cho con thì anh không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa các đương sự, nhưng do anh
Dương Thanh L vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Dương Hoàng L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện xin xác định bé gái do chị Hà Thị Phương A sinh ra vào 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L là con của anh. Bị đơn chị Hà Thị Phương A đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, đương sự và Hội Đồng xét xử. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định bé gái do chị Hà Thị Phương A sinh ra ngày 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L là con của anh Dương Hoàng L theo kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/5/2019 của Viện sinh học phân tử LOCI.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xuất phát từ việc anh Dương Hoàng L khởi kiện để
yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đ xác định bé gái do chị Hà Thị Phương Anh sinh ngày 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L là con của anh L và yêu cầu này liên quan đến anh Dương Thanh L nên xác định đây là quan hệ tranh chấp “Xác định cha cho con”, hiện bị đơn chị Phương A cư trú tại Phường 6, thành phố Đ, nên căn cứ các quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Thanh L
vắng mặt, nhưng anh L đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L theo đúng quy định.
Về nội dung: Theo lời trình bày của các đương sự thì giữa chị Hà Thị
Phương A và anh Dương Thanh L là vợ chồng hợp pháp từ năm 2001, cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2010 đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân với anh L thì đến năm 2018 giữa chị A và anh L có mối quan hệ tình cảm với nhau và chị Anh đã mang thai con của anh L. Ngày 01/11/2018 chị A và anh Dương Thanh L đã giải quyết xong thủ tục ly hôn theo quyết định CNSTT số 441/2018/QĐST - HNGĐ ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đ. Vào ngày 27/3/2019 chị A sinh một bé gái theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L. Do bé gái được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chị A và anh L chấm dứt hôn nhân, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì bé gái này được coi là con do chị Anh có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh L, vì vậy anh Dương Hoàng L không làm được thủ tục khai sinh cho con được, nên anh L đã khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định bé gái nêu trên là con của anh L để anh làm thủ tục khai sinh cho con theo đúng quy định.
Quá trình giải quyết vụ án chị A và anh L đều xác định bé gái do chị A sinh
ra ngày 27 tháng 3 năm 2019 không phải con của anh L. Đồng thời tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/5/2019 của Viện sinh học phân tử LOCI tại quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh đã kết luận bé gái có quan hệ huyết thống Cha - Con với anh Dương Hoàng L có tần suất đạt 99,9999963%. Xét lời khai của các đương sự thống nhất với nhau và phù hợp với kết quả xét nghiệm ADN, vì vậy việc anh Dương Hoàng L yêu cầu Tòa án xác định bé gái do chị Hà Thị Phương A sinh ra ngày 27/3/2019 con của anh L là có cơ sở để chấp nhận, nên căn cứ khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Hoàng L.
Về án phí: Đương sự thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí, án phí
theo quy định, nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 89 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí;
Xử:
1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Dương Hoàng L về việc
“Tranh chấp xác định cha cho con”.
2/Công nhận anh Dương Hoàng L, sinh năm 1989, địa chỉ: Số 41/4, hẻm N,
Phường E, thành phố Đ, tỉnh L là cha của bé gái do chị Hà Thị Phương A sinh ngày 27/3/2019 theo giấy chứng sinh số 1387, quyển số 15 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L.
3/Về án phí: Đương sự thuộc trường hợp được miễn chịu án phí theo quy định.
4/Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/7/2023). Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án (hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh L;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Tp. Đ;
- Chi cục THADS Tp. Đ;
- Các đương sự;;
- Bộ phận Dân sự;
Đã ký
- Lưu HS, AV.
Trần Thị Lan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Phú
Mai Lƣơng Anh
Trần Thị Lan
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND Tp Đ; - Chi cục THADS Tp Đ; - Các đương sự; - Bộ phận Dân sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Hoài |