- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phan Thị T xin xác nhận cha đẻ cho con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 98, 90, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 8 năm 2023 (V/v: Xác nhận cha đẻ cho con) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Điêu Thị Bích Lượt
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Phẩm
2/ Bà Bùi Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án thụ lý số: 52/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2023 về việc: “Xác nhận cha đẻ cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXX-ST ngày 18 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị T - sinh năm 1990;
ĐKHKTT: Khu 4, xã XV, huyện YL, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Anh Hà Văn K - sinh năm 1994;
Khu 4, xã XV, huyện YL, tỉnh Phú Thọ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Việt H - sinh năm 1987
TT: Khu 1, xã BN, huyện LT, tỉnh Phú Thọ
Khi thụ lý vụ án anh H sinh sống làm ăn ở nước ngoài, hiện nay anh H đã về nước.
(Chị T, anh K, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn là chị Phan Thị T trình bày:
Chị và anh Cao Việt H kết hôn ngày 08/11/2008 tại UBND xã BN, huyện LT, tỉnh Phú Thọ. Trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng có 03 con chung là cháu Cao Thị Thu H, Cao Tuấn A và Cao Tuấn V.
Tại bản án hôn nhân gia đình số: 57/2021/HNGĐ ngày 24/9/2021 của TAND tỉnh Phú Thọ đã quyết định giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là các cháu Cao Thị Thu H, Cao Tuấn A và Cao Tuấn V.
Ngoài ra trong thời kì hôn nhân chị còn có 01 con riêng, sinh ngày 30/03/2021, tại Trung tâm y tế huyện YL, hiện chưa làm giấy khai sinh. Tên dự sinh là Hà Tân C. Tại thời điểm giải quyết ly hôn chị không đề nghị toà án giải quyết xác định cháu C là con riêng của chị.
Nay chị làm đơn đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xác nhận anh Hà Văn K, sinh năm 1994, trú tại khu 4, xã XV, huyện YL, tỉnh Phú Thọ là cha đẻ của cháu Hà Tân C. Khi sinh cháu C ra anh K và chị quyết định đặt tên cho cháu là Hà Tân C, nên trong giấy chứng sinh ghi tên Hà Tân C. Chị đề nghị toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết quyết định cháu Hà Tân C là con của chị và anh K. Sau này chị và anh K làm giấy khai sinh cho cháu cam kết khai sinh tên cháu là Hà Tân C như trong giấy chứng sinh và trong quyết định bản án của Toà án.
Phía bị đơn là anh Hà Văn K trình bày: Anh và chị T có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2020, tại thời điểm đó chị T vẫn là vợ anh H. Sau đó giữa anh và chị T có quan hệ tình cảm và sinh ra cháu Hà Tân C như chị T trình bày trên là đúng. Nay chị T khởi kiện xác định anh là cha của cháu Hà Tân C, anh đề nghị toà án cho giám định ADN, nếu có đủ căn cứ xác định anh là cha của cháu C, anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Khi sinh cháu C, anh và chị T quyết định đặt tên cho cháu là Hà Tân C, nên trong giấy chứng sinh ghi tên Hà Tân C. Sau này chị T và anh làm giấy khai sinh cho cháu cam kết khai sinh tên cháu là Hà Tân C như trong giấy chứng sinh và trong quyết định của bản án của Toà án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Việt H: Vắng mặt không đến toà án làm việc, mặc dù toà án đều có tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T xử:
Xác định anh Hà Văn K là cha đẻ của cháu Hà Tân C
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Phan Thị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xác định anh Hà Văn K là cha đẻ của cháu Hà Tân C. Trong vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng là anh Cao Việt H, sinh năm 1987; trú tại Khu 1, xã BN, huyện LT, tỉnh Phú Thọ. Khi toà án thụ lý vụ án anh H đang làm ăn sinh sống tại nước ngoài, hiện nay anh H đã về nước, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Về trình tự thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thủ tục tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho anh H nhưng không tống đạt được vì anh H vắng mặt tại địa phương. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H thông qua mẹ đẻ anh H là bà Phạm Thị M. Tuy nhiên, anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Chị T, anh K có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt 02 lần. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh K, chị T, anh H.
Về nội dung:
Chị T trình bày anh K là cha đẻ của cháu Hà Tân C, quá trình giải quyết vụ án, toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành trưng cầu giám định AND. Kết luận giám định số: HT223.23/PY-XNSH ngày 05/5/2023 của Viện pháp y Quân đội đã kết luận: Anh Hà Văn K và cháu Hà Tân C có quan hệ huyết thống. Anh K cũng nhất trí kết luận giám định ADN. Do vậy, có đủ căn cứ xác định anh K là cha đẻ cháu Hà Tân C.
Khi sinh cháu C ra anh K, chị T đặt tên cho cháu là Hà Tân C, nên trong giấy chứng sinh ghi tên Hà Tân C. Anh K, chị T đề nghị toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định trong bản án cháu Hà Tân C là con của anh K và chị T. Sau này anh K và chị T làm giấy khai sinh cho cháu C anh K và chị T cam kết khai sinh tên cháu là Hà Tân C như trong giấy chứng sinh và trong quyết định của bản án. Xét thấy, đề nghị của anh K và chị T phù hợp vơi pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của chị T đựơc chấp nhận nên anh K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 4 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 98, 90, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T.
2. Xác định anh Hà Văn K, sinh năm 1994; trú tại: Khu 4, xã XV, huyện YL, tỉnh Phú Thọ là cha đẻ của cháu Hà Tân C, sinh ngày 30/3/2021 theo giấy chứng sinh ngày 30/3/2021 của Trung tâm y tế huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
3. Về án phí: Anh Hà Văn K phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị Phan Thị T 300.000đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0000457 ngày 30/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ - Cục THA tỉnh Phú Thọ - Đương sự - UBND xã XV - Lưu HS vụ án | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |