vanban.org

Bản án 63/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/DS-ST
Ngày:
Ngày: 28-8-2023
V/v: “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thanh Nga

2. Ông Nguyễn Bính

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 324/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Địa chỉ: số 02 Láng Hạ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn Vượng, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Tuấn Hoàng, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – chi nhánh Phan Thiết, Bình Thuận

(Quyết định số 2664/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 về việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người đại diện theo pháp luật; Quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án; Quyết định số 1304/QĐ-NHNo-TCTL ngày 07/7/2021 về việc bổ nhiệm lại cán bộ là ông Nguyễn Tuấn Hoàng giữ chức vụ Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Phan Thiết, Bình Thuận)

Ông Nguyễn Tuấn Hoàng ủy quyền lại cho ông Nguyễn Đức Chí, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Phan Thiết, Bình Thuận tham gia tố tụng

(Giấy ủy quyền ngày 28/02/2023)

Địa chỉ: 07 Trần Quốc Toản, phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: 1. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1983

2. Bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1988

Cùng địa chỉ: khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2023, và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Chí trình bày:

Ngày 26/5/2020, ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Diễm T đã ký Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202000698 với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với nội dung sau:

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vay số tiền 850.000.000 đồng (Tám trăm năm mươi triệu đồng);

- Mục đích vay: Bù đắp chi phí mua đất ở;

- Thời hạn của hạn mức: 15 năm, kể từ ngày ký đến hết ngày 26/5/2035;

- Lãi suất cho vay:

+ Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất điều chỉnh. Lãi suất cho vay có điều chỉnh theo định kỳ 3 tháng/lần, phù hợp với quy định lãi suất cho vay của Agribank chi nhánh tỉnh Bình Thuận thông báo trong từng thời kỳ ;

+ Mức lãi suất: 12,5%/năm;

+ Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn;

+ Lãi chậm trả: 10%/năm.

Hai bên có ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01SĐ/PLHĐ ngày 12/01/2022.

Ngày 24/9/2021, ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Diễm T đã ký Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202101301 với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với nội dung sau:

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng);

- Mục đích vay: Bù đắp chi phí mua sắm vật dụng gia đình;

- Thời hạn của hạn mức: 15 năm, kể từ ngày ký đến hết ngày 05/10/2036;

- Lãi suất cho vay:

+ Phương thức áp dụng lãi suất: Áp dụng cho vay có tần suất điều chỉnh tối thiểu định kỳ 3 tháng/lần, phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng nhà nước và Agribank;

+ Mức lãi suất: 10,5%/năm (Lãi suất cho vay áp dụng cho đến hết ngày 31/12/2021 theo văn bản 215/NHNo-BTh-PT-KHKD ngày 19/7/2021. Từ ngày 01/01/2022 áp dụng theo lãi suất thông thường theo quy định của Agribank). Lãi suất cho vay trung, dài hạn = Trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết bằng đồng Việt Nam, trả lãi sau kỳ hạn 12 tháng theo quy định của Tổng Giám đốc có tính dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán + tỷ lệ 5,4%;

+ Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn;

+ Lãi chậm trả: 10%/năm.

Ngày 12/01/2022, ông Đỗ Văn H và bà Nguyễn Thị Diễm T đã ký Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202200048 với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với nội dung sau:

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vay số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng);

- Mục đích vay: Bù đắp chi phí mua sắm trang thiết bị quán cà phê;

- Thời hạn cho vay: 15 năm, kể từ ngày ký đến hết ngày 12/01/2037;

- Lãi suất cho vay:

+ Phương thức áp dụng lãi suất: Áp dụng cho vay có tần suất điều chỉnh tối thiểu định kỳ 3 tháng/lần, phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng nhà nước và Agribank;

+ Mức lãi suất: 10,5%/năm. Lãi suất cho vay trung, dài hạn = Trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết bằng đồng Việt Nam, trả lãi sau kỳ hạn 12 tháng theo quy định của Tổng Giám đốc có tính dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán + tỷ lệ 4,9%;

+ Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn;

+ Lãi chậm trả: 10%/năm.

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1588, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 664637 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 18/10/2005 đứng tên bà Phạm Thị Bạch, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H; thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 677328 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 19/12/2005 đứng tên ông Đỗ Văn C, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H.

Việc thế chấp tài sản bảo đảm được ký kết bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022.

Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T đã nhận đủ số tiền vay. Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ nhưng ông, bà vẫn không thực hiện cam kết trả nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu:

- Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T trả số tiền nợ gốc 1.639.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm ba mươi chín triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 28/8/2023 là 228.266.073 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng), tổng cộng 1.867.266.073 đồng (một tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng);

- Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202000698 ngày 26/5/2020 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 26/5/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01SĐ/PLHĐ ngày 12/01/2022; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202101301 ngày 24/9/2021 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 05/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202200048 ngày 12/01/2022 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 13/01/2022;

- Trong trường hợp ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật;

- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng các đương sự không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nên không thể tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định;

- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi cho bị đơn theo các văn bản đã ký kết, nếu không thanh toán đủ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét thấy nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T phải trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T có địa chỉ tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 07/8/2023, bị đơn vắng mặt không có lý do. Ngày 25/8/2023, ông Đỗ Văn H có đơn đề nghị hoãn phiên tòa với lý do gia đình có việc hệ trọng, nhưng không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện đề nghị hoãn phiên tòa của ông Hiếu là có lý do chính đáng, không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó được xem như bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi của hợp đồng tín dụng, xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202000698 ngày 26/5/2020 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 26/5/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01SĐ/PLHĐ ngày 12/01/2022; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202101301 ngày 24/9/2021 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 05/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202200048 ngày 12/01/2022 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 13/01/2022 thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T trả số tiền nợ gốc 1.639.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm ba mươi chín triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 28/8/2023 là 228.266.073 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng), tổng cộng 1.867.266.073 đồng (một tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng); và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202000698 ngày 26/5/2020 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 26/5/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01SĐ/PLHĐ ngày 12/01/2022; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202101301 ngày 24/9/2021 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 05/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202200048 ngày 12/01/2022 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 13/01/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, nên có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, xét thấy:

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 677328 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 19/12/2005 đứng tên ông Đỗ Văn Chính, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 06/9/2018; quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1588, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 664637 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 18/10/2005 đứng tên bà Phạm Thị Bạch, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 16/4/2020. Các tài sản trên đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết theo Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 24/9/2021, ngày 07/01/2022. Các bên cũng đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022, nội dung thế chấp quyền sử dụng đất như trên để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, các khoản phí và chi phí khác phát sinh tại các Hợp đồng cấp tín dụng ký trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp, được công chứng tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Thuận.

Hội đồng xét xử xét thấy tài sản thế chấp đã được đăng ký và ký kết hợp lệ về nội dung, hình thức nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022 phát sinh hiệu lực. Do đó trong trường hợp ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T không trả được nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 677328 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 19/12/2005 đứng tên ông Đỗ Văn Chính, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 06/9/2018; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 664637 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 18/10/2005 đứng tên bà Phạm Thị Bạch, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 16/4/2020.

Về án phí và chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

\QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 262, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 385, Điều 401, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Buộc ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T trả số tiền nợ gốc 1.639.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm ba mươi chín triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 28/8/2023 là 228.266.073 đồng (hai trăm hai mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng), tổng cộng 1.867.266.073 đồng (một tỷ tám trăm sáu mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi ba đồng).

Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202000698 ngày 26/5/2020 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 26/5/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01SĐ/PLHĐ ngày 12/01/2022; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202101301 ngày 24/9/2021 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 05/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 4801-LAV-202200048 ngày 12/01/2022 kèm Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và kỳ hạn trả nợ ngày 13/01/2022cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Trong trường hợp ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2409ĐVH21/HĐTC ngày 24/9/2021, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0701ĐVH22/HĐTC ngày 07/01/2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1636, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 677328 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 19/12/2005 đứng tên ông Đỗ Văn Chính, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 06/9/2018; quyền sử dụng đối với thửa đất số 1588, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại khu phố 2, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 664637 do UBND thành phố Phan Thiết cấp ngày 18/10/2005 đứng tên bà Phạm Thị Bạch, đã được cập nhật biến động sang tên ông Đỗ Văn H ngày 16/4/2020.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và chi phí liên quan đến việc thi hành án (nếu có). Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

2. Về án phí: Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 68.018.000 đồng (sáu mươi tám triệu không trăm mười tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí 32.404.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015560 ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

3. Về chi phí tố tụng: Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ông Đỗ Văn H, bà Nguyễn Thị Diễm T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã nộp tạm ứng.

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/8/2023). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ