vanban.org

Bản án 63/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max vỏ màu vàng, 01 chiếc ví giả da cùng số tiền 4.700.000 đồng. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 72K1- 667.91 của bị cáo Nguyễn Văn Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/HS-ST
Ngày: 27-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phượng

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Thắm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Côn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2022/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh năm 1995; nơi sinh và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Phước Bình, xã PT, huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nơi ở hiện nay: Xóm Quang Phục, xã HT, huyện HH, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn Bắc, sinh năm 1976 và bà Đỗ Thị Tin, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29-6-2022 đến ngày 08-7-2022 thì chuyển tạm giam cho đến nay.

- Bị hại:

1. Chị Lại Thu H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm 14, xã HA, huyện HH, tỉnh Nam Định.

2. Anh Nguyễn Phương Th1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm Hồng Th1, xã HX, huyện HH, tỉnh Nam Định.

3. Anh Phạm Minh H, sinh năm 2001; nơi cư trú: Xóm 5, xã HL, huyện HH, tỉnh Nam Định.

4. Anh Đỗ Trường Kh, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố số 1, thị trấn C, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

+ Chị Vũ Thị D, sinh năm 1997;

+ Anh Phạm Văn Th2, sinh năm 1994;

+ Anh Phạm Quốc H2, sinh năm 1999;

+ Anh Lê Đức C1, sinh năm 1997;

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo Th; chị H, anh Th1, anh H, anh Kh, chị D, anh Th2, anh H2, anh C1 vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26-6-2022 đến ngày 29-6-2022, Nguyễn Văn Th đã đến các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hải Hậu thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản và 01vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 26-6-2022, Nguyễn Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát (BKS) 72K1- 667.91 đến cửa hàng kinh doanh điện thoại “Thóc store” của Nguyễn Phương Th1 ở xóm Xuân Hòa Đông, xã Hải Hòa, huyên Hải Hậu, tỉnh Nam Định mục đích trộm cắp tài sản. Th vào cửa hàng gặp anh Th1 đặt vấn đề mua điện thoại. Anh Th1 đưa cho Th 03 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax. Lợi dụng sơ hở của anh Th1, Th lấy 01 chiếc điện thoại màu đen, cất giấu vào túi quần phía trước bên trái rồi hỏi thủ tục mua hàng trả góp để đánh lạc hướng. Khi anh Th1 yêu cầu Th phải cung cấp chứng minh thư nhân dân thì Th lấy lý do không mang, về nhà lấy sẽ quay lại.

Th mang điện thoại vừa lấy của anh Th1 đến cửa hàng kinh doanh điện thoại “Đức Cường” ở tổ dân phố số 3, thị trấn Cồn do anh Lê Đức Cường làm chủ để bán nhưng chiếc điện thoại bị khóa Icloud nên anh Cường không mua. Th tiếp tục điều khiển xe mô tô đến cửa hàng kinh doanh điện thoại “Trường Khang mobile” của anh Nguyễn Trường Kh ở tổ dân phố số 1 thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu giả vờ hỏi mua điện thoại rồi đánh tráo chiếc điện thoại trên bằng chiếc điện thoại khác có Icloud. Tại cửa hàng của anh Kh, Th đặt vấn đề thay màn hình điện thoại nhưng thợ sửa điện thoại đi vắng, Th tiếp tục hỏi mua điện thoại. Lợi dụng lúc nhân viên bán hàng không chú ý, Th đánh tráo chiếc điện thoại vừa lấy trộm được của anh Th1 lấy chiếc điện thoại đang xem ở cửa hàng của anh Kh, giấu vào túi quần bên phải phía trước. Th mang chiếc điện thoại vừa đánh tráo đến cửa hàng điện thoại “Đức Cường” bán lấy số tiền 10.500.000 đồng ăn tiêu hết.

Vụ thứ hai:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28-6-2022, Nguyễn Văn Th điều khiển xe mô tô BKS 72K1- 667.91 đến cửa hàng điện thoại “Hiếu Phone” ở Tổ dân phố số 4 thị trấn Cồn do anh Phạm Minh H làm chủ. Với thủ đoạn như trên, anh H lấy 05 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax có các màu khác nhau cho Th xem. Th đã lấy 01 chiếc điện thoại 11Promax vỏ màu đen, dung lượng 64Gb cất giấu vào túi quần bên phải rồi ra về với lý do đi tham khảo giá nơi khác. Th mang chiếc điện thoại trên đến cửa hàng kinh doanh điện thọai “Đức Cường” bán lấy số tiền 10.000.000 đồng, ăn tiêu hết.

Vụ thứ ba:

Khoảng 13 giờ ngày 29-6-2022, Nguyễn Văn Th tiếp điều khiển xe mô tô BKS 72K1- 667.91 đến cửa hàng điện thoại Tuấn Huy ở tổ dân phố số 2, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định do chị Lại Thu H làm chủ hỏi mua điện thoại. Th gặp nhân viên bán hàng là chị Vũ Thị Dung đặt vấn đề mua điện thoại. Chị Dung lấy 03 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax cho Th xem. Th lấy 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng, dung lượng 64Gb cất giấu vào túi quần phía trước bên phải của mình rồi trả cho chị Dung 02 chiếc điện thoại còn lại. Chị Dung kiểm tra camera an ninh thì phát hiện Th lấy trộm 01 chiếc điện thoại của cửa hàng. Th bị chị Dung cùng quần chúng nhân dân bắt giữ, đưa đến Công an thị trấn Yên Định lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 chiếc Iphone 11 Promax 64Gb, vỏ màu vàng, số Imei1: 353904108999141; số Imei2: 353904109147328; 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max vỏ màu vàng, dung lượng 64Gb, Imei1: 357265095233118, Imei2: 357265095449839; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, sơn màu xanh, BKS 72K1-667.91 và 01 ví giả da bên trong có số tiền 4.700.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Bản định giá tài sản số 42/KL - HĐĐG ngày 05/7/2022 và số 42a/KL- HĐĐG ngày 06/7/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận:

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax 64Gb, vỏ màu vàng, số Imei1: 353904108999141; số Imei2: 353904109147328 trị giá 14.000.000 đồng.

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax 64Gb vỏ màu đen số Imei1: 353891101478035, Imei2: 353891101549355, trị giá 14.000.000 đồng (chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 bị khoá tài khoản Icloud trị giá 3.000.000 đồng).

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax 64Gb vỏ màu đen số Imei1: 353892105358942, Imei2: 353892105480480 trị giá 14.000.000 đồng.

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax 64Gb vỏ màu xanh rêu số Imei1: 353892108086631, Imei2: 353892108153829 trị giá 14.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Th đã tác động gia đình trả số tiền 20.500.000 đồng cho anh Lê Đức Cường. Cơ quan điều tra đã trả 04 chiếc điện thoại trên cho các bị hại. Sau khi nhận tài sản, anh Lê Đức Cường, chị Lại Thu H, anh Nguyễn Phương Th1, anh Phạm Minh H và anh Đỗ Trường Kh không đề nghị gì thêm về phần dân sự.

Cáo trạng số 60/CT-VKSHH ngày 09 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29-6-2022. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo không tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn Th tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đơn đề nghị và lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26-6-2022 đến 29-6-2022, Nguyễn Văn Th đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của các cửa hàng kinh doanh điện thoại trên địa bàn huyện Hải Hậu bán lấy tiền ăn tiêu. Cụ thể như sau:

Chiều ngày 26-6-2022, Nguyễn Văn Th đến cửa hàng kinh doanh điện thoại của anh Nguyễn Phương Th1 ở xã Hải Hòa, lén lút lấy 01 chiếc điện thoại IPhone 11 Promax trị giá 14.000.000 đồng. Do chiếc điện thoại đã bị khóa Icloud, Th mang đến cửa hàng của anh Đỗ Trường Kh ở tổ dân phố số 1, thị trấn Cồn dùng thủ đoạn gian dối để đánh tráo lấy 01 chiếc điện thoại IPhone 11 Promax trị giá 14.000.000 đồng của anh Kh. Ngày 28-6-2022, Nguyễn Văn Th đến cửa hàng kinh doanh điện thoại của anh Phạm Minh H ở thị trấn Cồn, ngày 29-6-2022 Th đến cửa hàng kinh doanh điện thoại của chị Lại Thu H ở thị Trấn Yên Định, lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu, Th đã lén lút lấy trộm ở mỗi cửa hàng 01chiếc điện thoại IPhone 11 Promax, trị giá mỗi chiếc điện thoại là 14.000.000đồng.

Bị cáo đã bán 02 chiếc điện thoại chiếm đoạt của anh Kh và anh H cho anh Lê Đức Cường lấy 20.500.000 đồng, ăn tiêu hết.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Để có tiền thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không cần phải mất sức lao động, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của các cá nhân và bằng hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Trong các ngày từ 26-6-2022 đến 29-6-2022, bị cáo 03 lần lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với việc lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; số tiền bán điện thoại bị cáo đã tác động gia đình trả cho anh Cường. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Lại Thu H, anh Nguyễn Phương Th1, anh Phạm Minh H và anh Đỗ Trường Kh đã được nhận lại tài sản bị mất. Anh Lê Văn Cường đã nhận đủ số tiền 20.500.000 đồng. Sau khi nhận lại tài sản, các bị hại, anh Cường đều không yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần dân sự. Do đó, về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 72K1-667.91 Th đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Chiếc điện thoại Iphone XS Max vỏ màu vàng, chiếc ví da cùng số tiền 4.700.000 đồng là tài sản hợp pháp của Th, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.

Anh Lê Đức Cường đã mua 02 chiếc điện thoại của bị cáo nhưng không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có và không bàn bạc, hứa hẹn từ trước nên không có căn cứ để xử lý bằng pháp luật.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 30 (ba mươi) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 15 (mười lăm) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chấp hành 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max vỏ màu vàng, 01 chiếc ví giả da cùng số tiền 4.700.000 đồng.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 72K1- 667.91 của bị cáo Nguyễn Văn Th.

(Vật chứng nêu trên được mô tả trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-9-2022 và Biên lai thu tiền số 0003961 ngày 21-9-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ