- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2022/HS-PT Ngày: 10-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 58/2022/HSPT, ngày 07 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Ngô Văn L, do có kháng cáo bị cáo Ngô Văn L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Ngô Văn L, sinh năm 1968, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp U, xã H, huyện L, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1931; có vợ (chết) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 15 tháng 6 năm 2020 bị Công an xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Ném gạch, đất, đá vào nhà, vào phương tiện giao thông của người khác”; nhân thân: xấu; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13 tháng 12 năm 2021 đến nay (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn L: Ông Võ Hùng H là Luật sư chỉ định Văn phòng luật sư H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
Ngoài ra còn những người bị hại do không kháng cáo, bị kháng nghị, không liên quan kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2020 bị cáo Ngô Văn L quen biết và yêu thương với chị Lê Thị Thắm E. Ngày 04 tháng 10 năm 2020 bị cáo cùng với chị Thắm E tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi đám cưới chị Thắm E về sống cùng với bị cáo tại ấp U, xã H, huyện L, tỉnh Trà Vinh. Ngày 31 tháng 10 năm 2020 chị Thắm E một mình về thăm nhà tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh còn bị cáo thì ở lại tại nhà. Đến khoảng hơn 16 giờ cùng ngày chị Thắm E điện thoại cho bị cáo kêu bị cáo đưa tiền đóng hụi thì bị cáo đồng ý nên điều khiển xe mô tô đến nhà chị Thắm E. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày bị cáo đến nhà chị Thắm E thì gặp Lê Tấn T và Lê Thành P, T và P là em ruột chị Thắm E. Tại đây bị cáo cùng T và P tổ chức uống bia đến khoảng 22 giờ cùng ngày tất cả nghỉ uống, bị cáo đi vào trong phòng ngủ còn T và P đi về nhà. Lúc bị cáo đi vào phòng ngủ còn chị Thắm E đang ngồi đánh răng ở sàn nước nhà sau. Do không ngủ được và nhớ lại việc bị cáo nhờ chị Thắm E mua số đề giúp có kết quả trúng nhưng chị Thắm E chưa đưa tiền cho bị cáo. Đồng thời bị cáo cho rằng sau khi cưới chị Thắm E thì bị cáo đã chi trả nhiều tiền để chăm sóc cho gia đình chị Thắm E, nhưng chị Thắm E không thật lòng còn muốn sử dụng riêng số tiền đã mua đề trúng, bị cáo tức giận đi đến tủ bếp ở nhà sau lấy 01 cây dao, loại dao yếm cầm trên tay và đi đến phía sau lưng chị Thắm E đang ngồi đánh răng dùng dao chém trúng vào đầu chị Thắm E một cái, chị Thắm E quay mặt lại bị cáo tiếp tục chém vào đầu chị Thắm E cái thứ hai làm chị Thắm E té ngã xuống sàn nước. Sau đó chị Thắm E đứng dậy giằng co và giật lấy cây dao trên tay bị cáo. Lúc này T và P ở gần đó nghe tiếng la của chị Thắm E nên chạy đến can ngăn và đưa chị Thắm E đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 16/21/TgT ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà Vinh xác định thương tích của Lê Thị Thắm E tại thời điểm giám định là 10%. Cơ chế hình thành vết thương là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra vết thương là vật cứng có cạnh sắc, hướng từ trên xuống.
Quá trình điều tra, nhận thấy bị cáo Ngô Văn L có những biểu hiện nghi vấn về tâm thần. Ngày 25 tháng 3 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị cáo Ngô Văn L. Ngày 09 tháng 7 năm 2021, Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ có Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 162/2021/KLGĐ đối với Ngô Văn L (Bút lục: 51-52, 58-60).
- Về y học: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại, Ngô Văn L bị rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu (F10.71 - ICD10).
- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại, Ngô Văn L hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HSST ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn L 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/4/2022 bị cáo Ngô Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận án sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” là đúng với hành vi của bị cáo đã thực hiện, bị cáo Ngô Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm bổ sung kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng công khai tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở xác định vào đêm ngày 31/10/2020 bị cáo Ngô Văn L có hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu của chị Thắm E gây thương tích 10%. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi của bị cáo, mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là phù hợp với tính chất vụ án, hành vi bị cáo đã thực hiện cũng như hậu quả bị cáo gây ra và nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm cũng áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp xong số tiền 4.602.000 đồng còn lại cho bị hại. Như xét thấy tính chất mức độ hành vi của bị cáo xét thấy mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Do đó việc kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị cáo Ngô Văn L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Vị thống nhất với bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Ngô Văn L phạm tội “ cố ý gây thương tích” và hình phạt 09 tháng tù. Tuy nhiên vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo nộp tiếp tiền bồi thường còn lại cho bị hại 4.602.000 đồng xem như bị cáo đã bồi thường xong, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mẹ, bà ngoại, bà nội bị cáo là mẹ Việt Nam anh hùng, hai anh là liệt sĩ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình thực hiện hành vi và hiện nay bị cáo bị hạn chế nhận thức điều khiển hành vi đây là nguyên nhân dẫn đến bị cáo không kiềm chế hành vi phạm tội. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt từ 09 tháng tù xuống còn 06 tháng tù và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có điều kiện để nuôi mẹ bị cáo là mẹ Việt Nam anh hùng tuổi đã cao sức yếu.
Lời nói sau cùng của bị cáo Ngô Văn L: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Văn L là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Ngô Văn L. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Ngô Văn L thừa nhận khoảng 22 giờ ngày 31 tháng 10 năm 2020 giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo sử dụng con dao chém vào đầu chị Thắm E là vợ của bị cáo hai cái với tỷ lệ thương tích qua giám định 10% lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là chính xác đúng người, đúng pháp luật.
Bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm vô cớ chém vào người bị hại là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại trái pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi mang tính chất côn đồ của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, bản thân bị cáo có nhân thân xấu. Án sơ thẩm xét xử bị cáo 09 (chín) tháng tù là cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ và xem xét tính chất mức độ hậu quả của vụ án. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình áp dụng hình phạt, cấp sơ thẩm không xem xét đến tình tiết, bị cáo bị hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi, tình tiết này cũng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay cũng cần xem xét bổ sung tình tiết này được xem là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt đối với bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo đã cung cấp thêm chứng cứ mới đó là bị cáo tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nộp số tiền 4.602.000 đồng để bồi thường cho bị hại và xem như bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường về trách nhiệm dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tố tụng: Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đề nghị của Vị kiểm sát viên xét xử phúc thẩm phù hợp với tình tiết khách quan vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của vị Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử có căn nhắc xem xét nhưng xét thấy không phù hợp với hành vi nguy hiểm của bị cáo gây ra cho bị hại nên không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Văn L.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HSST, ngày 19/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Án phí: Bị cáo Ngô Văn L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh; - TAND huyện C; - VKSND h. C; - CA h. C; - CC THADS h. C; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thành |