- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!HỚN!QUẢN! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST Ngày: 11- 8 – 2022 V/v: Ly hôn, giao con chung |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HỚN!QUẢN,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!
- Thành"phần"hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn T
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Vui
Ông Nguyễn Đình Như
- Thư"ký"phiên"tòa: Bà Trần Thị Lan– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
-" Đại" diện" Viện"kiểm"sát" nhân"dân" huyện"Hớn" Quản" tham"gia" phiên" tòa: Ông Lê Quang Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 08 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 120/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, giao con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 01/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, giữa các đương sự:
N đơn: Chị Thông Thị T, sinh năm 1985;( yêu cầu vắng mặt).
Trú tại: Tổ 02, khu phố Phú Bình, phường An Lộc, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1984; (Vắng mặt).
Trú tại: Tổ 02, ấp Sóc Răng, xã T Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án N đơn chị Thông Thị T trình bày:
Chị T và anh Nguyễn Xuân N sau thời gian tìm hiểu tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới; sau khi kết hôn chị T và anh N sinh sống tại ấp Sóc Răng, xã xã T Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì mâu thuẫn, N nhân là do anh N thường xuyên đi làm ăn xa nên ít về nhà, không chăm lo cho gia đình vợ con, ngoài ra anh N còn có người phụ nữ khác bên ngoài nên vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, đến năm 2015 thì vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm gì đến ai, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục nên chị Thông Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Xuân N để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thông Hải Nam, sinh năm; 2012 và Nguyễn Thông Ngọc Minh, sinh năm: 2015, nay ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung cháu Nam và cháu Minh vì từ khi vợ chồng sống ly thân các con do chị T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét, giải quyết
Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
Sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn của chị T, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh N nhiều lần đến Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng anh N không hợp tác, không đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ việc, mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. N đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung: Căn sứ vào các tại liệu trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N đơn chị Thông Thị T.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Thông Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Xuân N, cư trú tại tổ 2, ấp Sóc Răng, xã T Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N nhưng anh N không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh N cũng vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N theo quy định.
Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Áp dụng khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị T thấy rằng:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Ký Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh; hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại điều 9 và điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T xác nhận đời sống chung không hạnh phúc, do anh N thường xuyên đi làm ăn xa không thường xuyên về nhà và không quan tâm đến gì đến vợ con, đến năm 2015 chị T và anh N sống ly thân, không ai quan tâm ai nữa; theo biên bản xác minh được ban ấp xác nhận vợ chồng ban ấp Sóc Răng hiện tại chị T và anh N đã ly thân nhau 6 năm nay, không ai quan tâm ai nữa. Điều này cho thấy tình cảm giữa hai vợ chồng chị T và anh N thực sự đã mâu thuẫn trầm trọng; hơn nữa, Tòa án đã triệu tập anh N nhiều lần đến tòa án để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh N không lên toà để làm việc và tại phiên tòa hôm nay anh N cũng vắng mặt không có lý do, thể hiện anh N không còn quan tâm gì đến tình cảm giữa anh và chị T nên chị T yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ. nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
[3] Về con chung: Chị T và anh N có 02 người con chung Nguyễn Thông Hải Nam, sinh năm; 2012 và Nguyễn Thông Ngọc Minh, sinh năm: 2015. Nay ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung cháu Nam và cháu Minh, quá trình chị T và anh N sống ly thân, các con chung do chị T nuôi dưỡng, quá trình giải quyết vụ án Toà án triệu tập anh N lên làm việc tuy nhiên anh N không đến Toà để làm việc nên không biết được ý kiến của anh N. Quá trình toà án thụ lý vụ án toà án đã triệu tập theo nguyện vọng của các con chưa thành niên thì có nguyện vọng các con muốn được ở với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T chưa yêu cầu nên chưa xem xét.
[5] Về tài sản chung: Không có
[6] Về nợ chung: N đơn khai không nợ chung của ai cũng không cho ai vay nợ
[7] Về án phí: N đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[8] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tại phiên tòa ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2, Điểu 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điểu 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn chị Thông Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thông Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân N (Theo giấy chứng nhận kết hôn 88, quyển số 01.2008 ngày 03/02/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh).
2. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Thông Hải Nam, sinh năm; 2012 và Nguyễn Thông Ngọc Minh, sinh năm: 2015 cho chị Thông Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị Thông Thị T chưa yêu cầu nên chưa xem xét giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đề việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi tích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.
3. Về tài sản chung : N đơn khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Thông Thị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0013882 ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
6. Quyền kháng cáo:
N đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án./. Nơi!nhận:!
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND tỉnh Bình Phước;
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ!
- VKSND huyện Hớn Quản;
- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
- Các đương sự;
- UBND thị trấnKỳ Anh;
- Lưu HS;
Hồ!Văn!T!
"