vanban.org

Bản án 63/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bá Toàn – sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Kỳ Anh – sinh ngày 15/6/2014 cho anh Nguyễn Thanh Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Võ Thị Ph không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vo Thi Ph - Nguyen Thanh Kh Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20-7-2022
“V/v Tranh chấp về Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Hồng Hạnh

Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 32/2022/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ph – sinh năm 1988 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã VHHN, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Hiện tạm trú: Ấp LT, xã LP, thị xã LM, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Kh – sinh năm 1982 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp X, xã VHHN, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 17/8/2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn Chị Võ Thị Ph trình bày:

Vào năm 2006, chị và anh Nguyễn Thanh Kh có tìm hiểu tình cảm với nhau một thời gian và chung sống với nhau như vợ chồng. Hôn nhân tự nguyện, gia đình hai bên không có tổ chức lễ cưới nhưng sau đó đến năm 2011 vợ chồng có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật.

Anh chị chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng 11 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, vợ chồng không còn hòa hợp. Thêm vào đó, anh Kh không chịu tu chỉnh làm ăn mà lo cờ bạc, số đề lại thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện gây sự, do có quá nhiều bất đồng nên chị xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nửa nên tự ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay, chị và anh Kh không có liên lạc với nhau, cũng không có gặp mặt và không hòa giải được với nhau. Nay, chị nhận thấy vợ chồng không thể nào hàn gắn với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 02 con chung tên: Nguyễn Bá Toàn – sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Kỳ Anh – sinh ngày 15/6/2014. Hiện nay, hai cháu đang sống cùng với anh Kh. Chị có tìm về thăm con nhưng do anh Khá giấu không cho gặp nên chị không gặp được hai con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ph xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng cũng không có thiếu nợ ai.

Tại phiên tòa: Về quan hệ hôn nhân, chị Võ Thị Ph yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh; Về con chung, chị Ph đồng ý giao hai con chung là Nguyễn Bá Toàn và Nguyễn Kỳ Anh cho anh Kh tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, chị Ph xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh Kh không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật cho anh Kh nhưng anh không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận cho chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh; Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bá Toàn – sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Kỳ Anh – sinh ngày 15/6/2014 cho anh Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Ph không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình chung sống, do phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được với nhau nên chị Võ Thị Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (Bộ luật BLTTDS 2015).

Anh Nguyễn Thanh Kh với tư cách là bị đơn trong vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, anh Kh không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, không nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc khác, anh Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Kh.

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Ph và anh Nguyễn Thanh Kh xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2006, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 141 ngày 17/8/2011, theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh vì lý do anh Kh không tu chỉnh làm ăn mà chỉ lo cờ bạc, số đề lại thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện gây sự, do có quá nhiều bất đồng nên chị xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nửa nên tự ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Đối với anh Nguyễn Thanh Kh, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh Nguyễn Thanh Kh đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị Ph khai rõ trong suốt thời gian ly thân, vợ chồng anh chị không gặp mặt nhau và không còn liên lạc với nhau nữa, bản thân chị thì không còn tình cảm gì với anh Kh và tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh Kh. HĐXX thấy rằng, trước khi kết hôn anh chị không có tìm hiểu kỹ nên khi về sống chung một thời gian thì bộc lộ cá tính của mỗi người nên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được dẫn đến tranh chấp kéo dài làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ph là phù hợp.

Về con chung: Chị Võ Thị Ph xác định vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bá Toàn – sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Kỳ Anh – sinh ngày 15/6/2014. Hiện nay, hai cháu đang sống cùng với anh Kh nên chị Ph đồng ý giao hai con chung cho anh Kh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

HĐXX thấy rằng, từ khi ly thân đến nay, cháu Toàn và cháu Kỳ anh đều sống cùng với anh Kh. Nay, chị Ph đồng ý giao hai con cho anh Kh tiếp tục nuôi là phù hợp với thực tế và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó HĐXX ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Ph xác định vợ chồng không có tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Án phí ly hôn là 300.000đ chị Ph phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Ph được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Kh.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bá Toàn – sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Kỳ Anh – sinh ngày 15/6/2014 cho anh Nguyễn Thanh Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Võ Thị Ph không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở chị Ph thực hiện quyền này.

Khi cần thiết anh, chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Võ Thị Ph phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006652, ngày 09/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Ph đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 20/7/2022.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ