- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị D và anh L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 - 2022 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Thư 2. Ông Trương Văn Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa. Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị D, sinh năm 1989. HKTT: ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long. Tạm trú: ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long (có mặt). 2. Bị đơn: Anh L, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị D trình bày: Chị và anh L qua thời gian quen biết tìm hiểu nhau, được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2006, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long ngày 17/4/2007. Nữ trang cưới: 05 chỉ vàng 24K, trong thời gian chung sống vợ chồng bán chi tiêu trong gia đình hết, hiện nay không còn. Sau khi cưới vợ chồng sống ở ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long. Có 01 con chung: K, sinh ngày 15/02/2007 đang sống với anh L. Tài sản chung: có một căn nhà chiều ngang 4,5m dài 13m cấu tạo: cột xi măng, mái lợp tol, vách tol, nền lót gạch men cất nhờ trên đất cha mẹ chồng. Nợ chung: vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống; do anh L không chí thú làm ăn, thường hay uống rượu, một mình chị phải bươn trãi lo cho cuộc sống gia đình và con cái. Chị đã nhiều lần khuyên can chồng thay đổi nhưng đều không thành dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc; ly thân từ tháng 10/2021 đến nay. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn anh L; Về con chung: K, sinh ngày 15/02/2007 chị yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con, người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con. Con có nguyện vọng sống với anh Le, chị đồng ý anh L được quyền nuôi con; chị không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản hòa giải ngày 10/8/2022 bị đơn anh L trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian kết hôn và quá trình sống chung; vợ chồng anh có đăng ký kết hôn. Nữ trang cưới: 05 chỉ vàng 24K, trong thời gian chung sống vợ chồng bán chi tiêu trong gia đình hết, hiện nay không còn. Sau khi cưới vợ chồng sống ở ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Vĩnh Long. Có 01 con chung: K, sinh ngày 15/02/2007 đang sống với anh. Tài sản chung: có một căn nhà chiều ngang 4,5m dài 13m cấu tạo: cột xi măng, mái lợp tol, vách tol, nền lót gạch men cất nhờ trên đất cha mẹ anh. Nợ chung: vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Anh xác định vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì trầm trọng; anh cũng có nhậu, vợ chồng cự cãi nhau vài tiếng nói, anh bỏ đi; năm 2021 thời gian dịch bệnh Covid -19 do chị D đi làm ở công ty, anh sợ chị D về lây bệnh cho gia đình, anh không cho chị D đi làm nên vợ chồng xảy ra cự cãi, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 10/2021 đến nay, anh có đến nhà mẹ vợ năn nỉ chị D nhưng chị D không đổng ý trở về chung sống với anh. Trước đây, vợ chồng anh cũng có cự cãi nhau, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột ở, anh có năn nỉ và cam kết với chị D anh sửa đổi lo làm ăn, chị D đồng ý trở về chung sống với anh.
Nay theo yêu cầu khởi kiện của chị D; anh không đồng ý ly hôn chị D, anh vẫn còn thương chị D; anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng được đoàn tụ trở về chung sống lo cho con. Trường hợp Tòa án giải quyết cho chị D được ly hôn: Về con chung: K, sinh ngày 15/02/2007 anh yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của con; con sống với anh thì anh nuôi, anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2022 cháu K trình bày: cha cháu tên L, mẹ cháu tên D. Cha mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng cháu sống với cha.
- Tại phiên tòa: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Chị D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh L, anh L có nơi cư trú thuộc huyện Bình Tân nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn anh L tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng anh L vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D là có cơ sở. Bởi lẽ anh chị bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường xuyên mâu thuẫn. Anh L thừa nhận thời gian trước đây, vợ chồng anh cũng có cự cãi nhau, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột ở, anh có năn nỉ và cam kết với chị D anh sửa đổi lo làm ăn, chị D đồng ý trở về chung sống với anh. Nay vợ chồng lại xảy ra cự cãi, chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 10/2021 đến nay; hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L, chị yêu cầu được ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: K, sinh ngày 15/02/2007 có nguyện vọng sống với cha. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao cháu K cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên anh L không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về chia tài sản: Chị D và anh L tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị D phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị D và anh L.
2. Về con chung:
2.1. Giao K, sinh ngày 15/02/2007 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: anh L không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị D có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu K được sống chung với anh L.
Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về chia tài sản: Chị D và anh L tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị D nộp theo biên lai thu số 0013744 ngày 15/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị D đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T. Vĩnh Long; - VKSND H. Bình Tân; - Chi cục THADS H. Bình Tân; - UBND xã Tân An Thạnh, Bình Tân, Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Kim Ngân |