vanban.org

Bản án 63/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Thành C đối với vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P về việc thanh toán tiền mua bán thức ăn nuôi tôm.

Buộc vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P phải có trách nhiệm thanh toán cho Hộ kinh doanh Thành C số tiền nợ gốc mua bán thức ăn nuôi tôm là 180.731.000 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng ông Q và bà P chậm thanh toán số tiền nêu tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "TRANH CHẤP TIỀN THỨC ĂN NUÔI TÔM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Thành C đối với vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P về việc thanh toán tiền mua bán thức ăn nuôi tôm.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2022/DS-ST
Ngày: 27-4-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Hoàng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Lộc

Ông Nguyễn Đông Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2022/QĐ-ST ngày 08 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hộ Kinh doanh Thành Công.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Chí Thiện – sinh năm 1996.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Danh Như Ngọc - sinh năm 1997 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm 2, thị t, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Phan Văn Q – sinh năm 1978 và bà Trịnh Mỹ P - sinh năm 1981 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2020 Hộ Kinh doanh Thành Công và vợ chồng ông Phan Văn Q, bà Trịnh Mỹ P thỏa thuận thực hiện giao dịch mua bán thức ăn tôm, theo đó Hộ kinh doanh Thành C bán thức ăn nuôi tôm thẻ chân trắng, tôm sú mang nhãn hiệu Việt Hoa và các loại thuốc thủy sản theo số lượng đặt hàng của vợ chồng ông Q và bà P để nuôi tôm, đến cuối vụ vợ chồng ông Q và bà P phải thanh toán dứt điểm công nợ cho Hộ kinh doanh Thành C.

Trong quá trình giao dịch, vợ chồng ông Q bà P không thực hiện trả tiền đúng theo thỏa thuận, đến cuối vụ không thanh toán hết công nợ, đến ngày 01/5/2020 thì vợ chồng ông Q bà P ký xác nhận công nợ đến tháng 04/2020 còn nợ là 180.731.000 đồng. Phía Hộ kinh doanh Thành C đã liên hệ với vợ chồng ông Q bà P nhiều lần để yêu cầu thanh toán nợ, nhưng đến nay vợ chồng ông Q bà P vẫn chưa thanh toán được khoản nợ nào cho phía Hộ Kinh doanh Thành Công.

Nay Hộ Kinh doanh Thành Công yêu cầu vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P có trách nhiệm thanh toán nợ tiền mua bán thức ăn nuôi tôm với số tiền là 180.731.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

* Đối với vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông bà không tham gia phiên họp và hòa giải, ông Q và bà P cũng không có văn bản trình bày ý kiến mình về yêu cầu khởi kiện của Hộ Kinh doanh Thành Công.

* Tại phiên tòa:

- Bà Danh Như Ngọc trình bày yêu cầu: Bà Ngọc yêu cầu vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P thanh toán số tiền gốc mua bán thức ăn nuôi tôm còn nợ là 180.731.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

- Vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử lần 2, nhưng ông bà vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P.

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Hộ Kinh doanh Thành Công khởi kiện vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P có địa chỉ tại ấp Cái Bát – xã Hòa Mỹ – huyện Cái Nước về việc tranh chấp tiền mua bán thức ăn nuôi tôm, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước theo quy định tại Điều 430 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét về yêu cầu của nguyên đơn: Hộ Kinh doanh Thành Công yêu cầu vợ chồng ông Q và bà P trả nợ gốc tiền thức ăn nuôi tôm là 180.731.000 đồng.

Căn cứ vào tất cả tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Giao dịch mua bán hàng hóa là thức ăn nuôi tôm giữa các bên đương sự là có xảy ra trên thực tế, được phía bị đơn là vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P thống nhất số tiền mà vợ chồng ông bà còn nợ Hộ Kinh doanh Thành Công trong giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm tính đến thời điểm ngày 01/5/2020 là 180.731.000 đồng, được thể hiện tại bảng đối chiếu công nợ ngày 01/5/2020 và biên bản làm việc về việc cam kết trả nợ.

- Vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp và hòa giải, nhưng vợ chồng ông Q bà P không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc Hộ kinh doanh Thành C khởi kiện. Do đó, vợ chồng ông Q và bà P phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình được quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Thành C, buộc vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P phải có trách nhiệm thanh toán cho Hộ kinh doanh Thành C số tiền nợ gốc mua bán thức ăn nuôi tôm là 180.731.000 đồng.

Trường hợp chậm trả số tiền nêu trên thì phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật.

[3.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Buộc vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P phải chịu án phí với số tiền = 180.731.000 đồng x 5% = 9.037.000 đồng (Chín triệu không trăm ba mươi bảy ngàn đồng, tính tròn số).

- Phần Hộ kinh doanh Thành C nộp tạm ứng án phí với số tiền 5.051.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007743 ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được nhận lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh Thành C đối với vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P về việc thanh toán tiền mua bán thức ăn nuôi tôm.

Buộc vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P phải có trách nhiệm thanh toán cho Hộ kinh doanh Thành C số tiền nợ gốc mua bán thức ăn nuôi tôm là 180.731.000 đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp vợ chồng ông Q và bà P chậm thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi với mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc vợ chồng ông Phan Văn Q và bà Trịnh Mỹ P phải chịu án phí với số tiền là 9.037.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

- Phần Hộ kinh doanh Thành C nộp tạm ứng án phí với số tiền 5.051.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007743 ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được nhận lại toàn bộ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT SƠ THẤM

Cỡ chữ