vanban.org

Bản án 63/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bình Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ (Minh) phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ (Minh): 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ (Cố ý gây thương tích) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ (Minh) phạm tội Cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ B
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HSST
Ngày: 24/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Minh

2. Ông Nguyễn Ngọc Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Kim Loan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hùng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử phiên tòa hình sự sơ thẩm số 21/2021/TB-TA ngày 09/11/2021 đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ (Minh), sinh năm 1960, tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Tổ 8, khu phố P, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; mẹ tên Phạm Thị Ph (sinh năm 1944, đã chết) và Cha: Không xác định; Vợ tên Văn Thị Ngọc M (sinh năm 1959, đã chết); tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPVPHC ngày 07/6/2018 của Công an phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt Phạm Văn Đ 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 11/6/2018; Ngày 02/01/2021, thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích, ngày 05/4/2021 bị khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại

Lê Thế D, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Phan Ngọc Ph, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

2. Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 5, ấp H, xã G, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

Chỗ ở hiện nay: 457 Nguyễn Huệ, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:

Phạm Văn Đ và Lê Thế D là hàng xóm của nhau cùng cư trú tại tổ 8, khu phố P, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước. Vào khoảng tháng 11/2020, Đ sử dụng lưới B40 rào phần đất Đ cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình lại nên anh D phải đi lối khác. Vụ việc đang Đ Ủy ban nhân dân phường T giải quyết và chưa có kết quả.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/01/2021, Lê Thế D cùng vợ là Phan Ngọc Ph đem 01 cái cuốc, 01 xà ben, 01 máy đục bê tông, 02 đoạn dây điện đi ra phần đất tranh chấp gỡ đoạn lưới B40 của hàng rào và đào nền bê tông tìm cột mốc phân ranh giới cũ. Lúc này, Phạm Văn Th là cháu nội của Phạm Văn Đ nhìn thấy nên gọi điện thoại báo cho Đ biết, Đ nhận Đ điện thoại của Th nên điều khiển xe máy quay về nhà và đến ngăn không cho vợ chồng D, P đào nền bê tông dẫn đến xô xát làm tay phải của Đ có 03 vết trầy xước tại vị trí mu bàn tay. Đ dự định bỏ đi thì thấy 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật, kích thước (2,5 x 05) cm, dài 95cm ở vị trí chuồng chó, gần vị trí Đ đang đứng nên Đ chồm người lên dùng tay phải lấy thanh kim loại rồi xoay người đánh 01 cái trúng vào đầu Lê Thế D làm D té ngã xuống đất. Ngay sau đó, Đ điện thoại cho con ruột là Phạm Văn K đến hiện trường cùng với bạn của D là anh Phạm Mạnh H đưa Lê Thế D đến Trung tâm y tế thị xã B, sau đó chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu xong chuyển qua bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị.

Phạm Văn Đ sau khi đánh Lê Thế D thì Đ cầm thanh kim loại đi bộ sang nhà bà Đoàn Thị Ngọc M ở gần đó để nhờ bà M gọi điện thoại báo Công an phường T đến giải quyết.

Cùng ngày 02/01/2021, Cơ quan điều tra Công an thị xã B đã lập biên bản tạm giữ 01 đoạn camera an ninh do Công an phường T quản lý và tiến hành cho Phạm Văn Đ xem lại hình ảnh trong đoạn video, xác định một người đàn ông tay cầm 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật đi bộ trên đoạn đường gần hiện trường vụ án chính là Phạm Văn Đ.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/2021/TgT ngày 23/3/2021 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Phước, kết luận thương tích của Lê Thế D như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo trán – đỉnh trái kích thước 10x0,2cm gọn, mềm.

- Lõm sọ trán- đỉnh trái kích thước 2,5 x 1cm.

- Xuất huyết dưới nhện trán trái không còn dấu chứng

- Dập não trán trái hiện không còn dấu vết.

→ Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật cứng có cạnh tác động trực tiếp theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới gây nên.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 28% (Hai mươi tám phần trăm)

Cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 05/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố Phạm Văn Đ (Minh) về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích; bị cáo Đ hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại phiên tòa bị hại Lê Thế D xin cho bị cáo Đ hưởng án treo; bị cáo là người già quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Đ (Minh) từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã Đ thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã B, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập Đ. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/01/2021, tại tổ 8, khu phố P, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước, do mâu thuẫn việc tranh chấp ranh đất dẫn đến Phạm Văn Đ sử dụng 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật, kích thước (2,5 x 05)cm, dài 95cm là hung khí nguy hiểm đánh 01 cái trúng đầu bị hại Lê Thế D. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 72/2021/TgT ngày 23/3/2021của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại cho Lê Thế D là 28% (Hai tám phần trăm), hành vi của Phạm Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 280.000.000đ (hai trăm tám mươi triệu đồng); bị hại Lê Thế D xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án; tiền sự về hành vi đánh bạc năm 2018 đã xóa tiền sự; vợ chết; là người lao động nghèo, đang trực tiếp nuôi cháu nội tên Phạm Văn Th, sinh năm 2010 đang học lớp 6; hiện bị cáo 61 tuổi; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo là đủ răn đe, giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình giải quyết vụ án, Phạm Văn Đ đã tự nguyện bồi thường số tiền 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) để khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa bị hại Lê Thế D không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với vật chứng của vụ án:

- Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả cho chị Phan Ngọc Ph (vợ Lê Thế D) 01 cái cuốc, 01 thanh kim loại hình trụ tròn; 01 đôi dép nhãn hiệu Kito. Trả cho Phạm Văn Đ 01 áo thun màu xanh, nhãn hiệu HCM. Trả cho Nguyễn Mạnh H 01 máy đục bê tông cầm tay màu xanh, nhãn hiệu “NIKATA” và 02 sợi dây điện. Việc trả lại tài sản là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật, kích thước (2,5x05)cm, dài 95 cm Phạm Văn Đ sử dụng gây thương tích cho bị hại Lê Thế D cần tịch thu tiêu hủy.

Kiểm sát viên đề nghị hình phạt cho bị cáo Phạm Văn Đ (Minh) và xử lý vật chứng là phù hợp, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ (Minh) phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 65; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ (Minh): 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Bình Phước quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002705 ngày 25/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Bình Phước: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật, kích thước (2,5x05)cm, dài 95 cm.

Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ