vanban.org

Bản án 63/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 27/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vi Th M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản ”.

TAND tỉnh Bp; Sở TP tỉnh BP; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Th M Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vi Th M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC
___________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 63 /2021/HS-ST
Ngày 27 /08 /2021

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toà phiên toà: Ông Trần Văn Xuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

[1]. Bà Lê Thị Thận

[2]. Ông Nguyễn Minh Sáu

Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Mai Thị Chang – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 27 tháng 08 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXX – ST ngày 16 tháng 08 năm 2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Vi Th M, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1999, tại tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú : Thôn 8, xã T N , huyện B Đ, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Tày, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Sửa xe, Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha Vi V T, Họ và tên mẹ: Chu Th N, Bị cáo có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2021 đến nay. Những ngƣời tham gia tố tụng: Ngƣời bị hại: Điểu T H;

Sinh năm 1997

Nơi cư trú : Thôn 5, xã N T , huyện B Đ, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : [1] Về hành vi pham tội của bị cáo Vi Th M : Vi Th M và Chị Điểu T H có quan hệ tình cảm yêu thương nhau, nhiều lần quan hệ tình dục. Trong những lần quan hệ tình dục, Vi Th M dùng điện thoại di động hiệu VIVO 1906 của mình để quay lại cảnh 2 người ân ái, đồng thời quay cảnh Điểu T H tắm không mặc quần áo. Khoảng tháng 02 năm 2021, Vi Th M và Điểu T H không còn yêu nhau nữa, do thiếu tiền tiêu xài, nên Vi Th M nảy sinh ý định dùng các video đã quay trước đó để uy hiếp Điểu T H buộc phải đưa tiền. Vi Th M dùng tài khoản Facebook “Pass Lovek” với ứng dụng Mesenger của mình để gửi các video quay cảnh Vi Th M và Điểu T H quan hệ tình dục cùng video quay cảnh Điểu T H tắm không mặc quần áo qua ứng dụng Mesenger với tài khoản Facebook tên “Thi Hong” và “Điểu T H ” cho chị Hồng. Sau đó, Vi Th M dùng điện thoại nhắn tin, gọi điện yêu cầu Điểu T H phải đưa cho Vi Th M số tiền 3.000.000 đồng thì Vi Th M sẽ xóa các video này, nếu không Vi Th M sẽ đăng lên mạng xã hội Facebook cho mọi người biết, nhưng Điểu T H không đồng ý, nên Vi Th M đã dùng tài khoản Facebook tên “ Điểu T H ” của Điểu T H (Tên đăng nhập là xxxxxxxxxx và mật khẩu là xxxxxxxxxxx) gửi các video nhạy cảm này cho bạn bè vào tài khoản Facebook trên. Đồng thời, Vi Th M lên mạng internet tải (dowload) hình ảnh bộ phận sinh dục nữ về điện thoại rồi đặt làm trang bìa của Facebook (Hình ảnh này đã được xóa sau đó 02 - 03 ngày). Do lo sợ mất thể diện và nhiều lần Vi Th M uy hiếp nên Điểu T H đồng ý đưa tiền cho Vi Th M, Vi Th M buộc Điểu T H phải đưa 5.000.000 đồng, nhưng Điểu T H chỉ chuẩn bị được 3.450.000 đồng. Điểu T H hẹn Vi Th M đến nhà nghỉ “Bù Na” thuộc thôn 1, xã Nghĩa Trung, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước để nhận tiền, đồng thời Điểu T H trình báo sự việc lên Công an xã Nghĩa Trung. Khoảng 12 giờ ngày 18/5/2021, Vi Th M đến phòng số 105 nhà nghỉ Bù Na gặp Điểu T H để lấy tiền, khi Vi Th M vừa nhận 3.450.000 đồng của Điểu T H bỏ vào túi quần, thì Vi Th M bị Công an xã Nghĩa Trung bắt quả tang, thu giữ 3.450.000 đồng và chiếc di động hiệu VIVO giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng. [2] Các vấn đề khác của vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu VIVO, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bù Đăng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ quá trình truy tố, xét xử (BL 78).

- 3.450.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bù Đăng đã trả cho chị Điểu T H (BL 68 - 69)

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Điểu T H đã nhận lại số tiền 3.450.000 đồng, không yêu cầu khác, nên không đặt ra.

Tại Bản cáo trạng số 71/QĐ/ KSĐT – TA ngày 03 /8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Vi Th M về tội “ Cưỡng đoạt tài sản ” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với các bị cáo như sau:

Về tội danh và hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Vi Th M phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản ” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, điểm s khỏan 1, khoản 2 Điều 51, 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Vi Th M từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 1 điện thoại di động hiệu VIVO của bị cáo.

Ý kiến về Quyết định truy tố: Bị cáoVi Th M đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo Vi Th M: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra truy tố thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự . [2] Xác định tội danh: Vi Th M có hành vi dùng điện thoại di động hiệu VIVO của mình để ghi hình cảnh Vi Th M và chị Điểu T H quan hệ tình dục , quay cảnh Điểu T H tắm không mặc quần áo. Sau đó Vi Th M dùng các hình ảnh này để ép Điểu T H phải đưa cho Vi Th M số tiền 3.000.000 đồng thì Vi Th M sẽ xóa các video này, nếu không Vi Th M sẽ đăng lên mạng xã hội Facebook cho mọi người biết, nhưng Điểu T H không đồng ý, nên Vi Th M đã dùng tài khoản Facebook tên “ Điểu T H ” của Điểu T H (Tên đăng nhập là xxxxxxxxxx và mật khẩu là xxxxxxxxxxx) gửi các video nhạy cảm này cho bạn bè vào tài khoản Facebook trên. Đồng thời, Vi Th M lên mạng internet tải (dowload) hình ảnh bộ phận sinh dục nữ về điện thoại rồi đặt làm trang bìa của Facebook (Hình ảnh này đã được xóa sau đó 02 - 03 ngày). Do lo sợ mất thể diện và nhiều lần Vi Th M uy hiếp nên Điểu T H đồng ý đưa tiền cho Vi Th M, Vi Th M buộc Điểu T H phải đưa 5.000.000đồng nhưng Điểu T H chỉ có 3.450.000đồng. Khoảng 12 giờ ngày 18/5/2021, khi Vi Th M vừa nhận 3.450.000 đồng của Điểu T H bỏ vào túi quần thì bị Công an xã Nghĩa Trung bắt quả tang.

Như vậy bị cáo Vi Th M có hành vi uy hiếp tinh thần, buộc chị Điểu T H đưa tiền cho mình.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Vì vậy hành vi của bị cáo Vi Th M đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3].Các tình tiết tặng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các tình tiết tặng nặng: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị cáo Vi Th M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu, đồng bào dân tộc thiểu số, do đó cũng cần xem xét giảm nhình phạt cho bị cáo.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và răn đe giáo dục phòng ngừa chung. [4]Về vật chứng vụ án : Cần tịch thu sung quỹ nhà nước 1 điện thoại di động hiệu VIVO của bị cáo Vi Th M do bị cáo dùng vào việc phạm tội. [5] Về án phí: Buộc bị cáo bị cáo Vi Th M phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Vi Th M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản ”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, điểm s khỏan 1 Điều 51, 38 BLHS, xử phạt bị cáo Vi Th M 1 (một) năm 3 ( ba ) tháng tù , thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2021. [2].Về vật chứng vụ án, áp dụng Điều 47 BLHS, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 1 điện thoại di động hiệu VIVO, màn hình cảm ứng, ốp lưng màu xanh ngọc của bị cáo Vi Th M. ( có biên bản giao nhận ngày 26/08/2021 kèm theo). [3]. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí của Toà án, buộc bị cáo Vi Th M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. [4].Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ