- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Ngọc Đ phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Công an xã Điện Phước 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phi Long
2. Bà Lương Thị Kim Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2021/HSST ngày 31/8/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2021.
Họ và tên: Đoàn Ngọc Đ – Sinh ngày: 17/8/2002, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn N, xã Điện P, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ngọc T và bà Trương Thị P; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 27/01/2021, bị Công an xã Điện Ngọc xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Nguyên đơn dân sự: Công an xã Điện P; Địa chỉ: xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Do ông Trần Công T – Cấp bậc, chức vụ: Thiếu tá; Trưởng Công an xã Điện Phước làm Đ diện theo ủy quyền. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghãi vụ liên quan:
+ Ông Lê Quang T, sinh năm: 2003; Địa chỉ: Thôn N, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)
+ Bà Trần Phạm Bảo U, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Thôn P, xã C thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 27/3/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc một số đối tượng tụ tập chuẩn bị đánh nhau tại đường ĐT609 thuộc Thôn Nông Sơn 2, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn nên Công an xã Điện Phước triển khai lực lượng đến thì nhóm đối tượng để xe lại bỏ chạy. Qua kiểm tra phát hiện một số xe mô tô có dấu hiệu thay đổi kết cấu xe không đúng quy định, Công an xã Điện Phước lập biên bản tạm giữ (trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu trắng BKS 92D1-806.85 của Đoàn Ngọc Đ) và chuyển xe tạm giữ về bãi giữ xe vi phạm của Công an xã, khóa lại bằng dây cáp để xác minh xử lý. Chiều ngày 29/3/2021, Công an xã Điện Phước mời Đ đến làm việc, khi nghe Công an thông báo xe của Đ đã thay đổi ống bô, bánh xe trước, sau nên sẽ tiếp tục tạm giữ để xử lý thì Đ đi về. Về đến nhà, Đ được Lê Quang Tấn đến chở đi chơi, trên đường đi Đ nảy sinh ý định sẽ đến bãi giữ xe vi phạm của Công an xã Điện Phước trộm lại xe Honda Vario màu trắng BKS 92D1-806.85 của mình đang bị tạm giữ. Để thực hiện hành vi, Đ mượn xe của Tấn về nhà lấy 01 cờ lê (màu đen dài khoản 20cm, một đầu 13 và một đầu 14) bỏ vào túi quần rồi đến nhờ T chở đến Ủy ban nhân dân xã Điện Phước còn T đi về. Lúc này khoảng 17 giờ 30 phút, Đ đi bộ từ cổng Ủy ban nhân dân xã Điện Phước vào bên trong, theo đường sau dãy nhà làm việc của Công an đến vị trí bãi giữ xe vi phạm, dùng cờ lê mang theo tháo vít, kéo dây cáp, dắt xe Vario màu trắng BKS 92D1-806.85 ra, cất cờ lê vào túi quần, dùng chìa khóa mang theo nổ máy chạy xe về nhà, vứt cờ lê xuống sân. Xong Đ chạy xe Vario 92D1-806.85 đến Tp. Hội An đưa xe Vario màu trắng BKS 92D1-806.85 cho Trần Phạm Bảo U (bạn của Đ) sử dụng, còn Đ đi xe của U. Khi phát hiện bị mất xe, Công an mời Đ lên làm việc, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Riêng Trần Phạm Bảo U đã giao nộp xe Honda Vario màu trắng BKS 92D1-806.85 lại cho Công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/HĐ.ĐG ngày 06/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Điện Bàn kết luận: 01(một) xe máy hiệu Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 thời điểm bị mất có giá trị 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 cùng chìa khóa xe; 01 (một) đoạn dây cáp dài 10,7m, lõi bằng kim loại được bọc lớp vỏ nhựa dẻo màu vàng đục, một đầu dây cáp được gập lại gắn khóa ốc vít kim loại. Tất cả được chuyển cho Chi cục Thi hành án thị xã Điện Bàn. Đối với cờ lê (màu đen dài khoản 20cm, một đầu 13 và một đầu 14), Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không tìm thấy.
Bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 30/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, truy tố bị cáo Đoàn Ngọc Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc Đ tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc Đ từ 06 đến 09 tháng tù.
+ Về vật chứng: Đề nghị tuyên trả cho Công an xã Điện Phước 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 cùng chìa khóa xe; 01 (một) đoạn dây cáp dài 10,7m, lõi bằng kim loại được bọc lớp vỏ nhựa dẻo màu vàng đục, một đầu dây cáp được gập lại gắn khóa ốc vít kim loại để xử lý theo pháp luật.
Đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh đối với bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra Đoàn Ngọc Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 29/3/2021, Đoàn Ngọc Đ đã có hành vi lén lút vào bãi giữ xe vi phạm của Công an xã Điện Phước trộm cắp 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 có giá trị 40.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đoàn Ngọc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội „„Trộm cắp tài sản“ theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ khả năng nhận thức, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản mặc dù thuộc sở hữu của mình nhưng đang thuộc sự quản lý hợp pháp của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ và quản lý tài sản của nhân dân của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền..
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có người thân tham gia Cách mạng nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự bị Công an phường Điện Ngọc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 27/01/2021.
Từ những nhận định về tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa cho những ai có ý thức coi thường pháp luật.
Những vấn đề liên quan đến vụ án: Đối với Lê Quang T đã có hành vi chở Đoàn Ngọc Đ đến Công an xã Điện Phước và Trần Phạm Bảo U đã có hành vi sử dụng xe Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 nhưng trong quá trình chở đi cũng như sử dụng, T và U không biết việc làm của Đ nên không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 cùng chìa khóa xe của Đoàn Ngọc Đ, đây là vật chứng Công an xã Điện Phước đã có Quyết định tạm giữ theo thủ tục hành chính số 02/QĐ-TGTVPTGPCC ngày 27/3/2021 nên giao lại cho Công an xã Điện Phước giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 (một) đoạn dây cáp dài 10,7m, lõi bằng kim loại được bọc lớp vỏ nhựa dẻo màu vàng đục, một đầu dây cáp được gập lại gắn khóa ốc vít kim loại là tài sản thuộc quyền sử dụng của Công an xã Điện Phước nên áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho Công an xã Điện Phước 01(một) xe máy hiệu Honda Vario màu trắng, BKS 92D1-806.85 cùng chìa khóa xe của Đoàn Ngọc Đ và 01 (một) đoạn dây cáp dài 10,7m, lõi bằng kim loại được bọc lớp vỏ nhựa dẻo màu vàng đục, một đầu dây cáp được gập lại gắn khóa ốc vít kim loại. (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2021.)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Đoàn Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam; - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - UBND xã Điện Phước; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thúy Vân |