vanban.org

Bản án 63/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) phạm tội: «Trộm cắp tài sản» - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-ST
Ngày: 12/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.

Ông Trần Đức Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Hoàng V (tên thường gọi là Hiếu); Sinh ngày: 05/6/2000; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 933/34 đường LG Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Trần M và bà: Đồng Thị A; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 01/7/2021.

Nhân thân:

- Ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản» (Bản án số: 64/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2017 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 122/GCN của Trại giam Long Hòa. Bị cáo chưa thi hành xong phần án phí (Công văn trả lời xác minh số: 1323/CCTHADS ngày 04/8/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 26/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 121/2018/HSST). Chưa thi hành xong phần án phí và phần bồi thường (Công văn trả lời xác minh số: 07/CCTHADS ngày 06/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và số: 09/THA ngày 06/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 21/02/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Tổng hợp với hình phạt 01 năm tù của Bản án số: 121/2018/HSST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 03 tháng tù (Bản án số: 15/2019/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2020 và đã thi hành xong phần án phí (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 760/GCN của Trại giam Châu Bình và Công văn trả lời xác minh số: 1702/CCTHADS ngày 16/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ngày 27/5/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 496/QĐ-TA).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Hoàng T; Sinh năm: 1997; Thường trú: 613/2 tổ 83, khu phố 9, phường PL, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở: 147/1T đường LĐC, phường TT, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Ngọc A1; Sinh năm: 1999; Thường trú: Ấp BĐ1, xã ĐHH, huyện ĐH, tỉnh Long An; Tạm trú: 31 đường BP, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Anh H; Sinh năm: 1999; Thường trú: Ấp BT1, xã ĐHH, huyện ĐH, tỉnh Long An; Chỗ ở: 147/1T đường LĐC, phường TT, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có yêu cầu vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Huỳnh A2; Sinh năm: 1999; Thường trú: Ấp BĐ1, xã ĐHH, huyện ĐH, tỉnh Long An; Tạm trú: 31 đường BP, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

3. Bà Huỳnh Thị Cẩm T1; Sinh năm: 1993; Thường trú: 824 Quốc lộ 50, ấp MN, xã BĐ, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: 103-105 đường KV, phường PT, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/02/2021 tại phòng trọ số 97 (tầng 1), khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F, các ông, bà Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Anh H, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Huỳnh A2 sau khi đi ăn tối về phát hiện cửa phòng trọ bị bẻ ổ khóa và bị mất một số tài sản, nên đã báo cho bà Huỳnh Thị Cẩm T1 (chủ khu nhà trọ) biết. Qua kiểm tra Camera ghi hình thì phát hiện Lê Hoàng V (ở phòng trọ số 28, tầng trệt, khu nhà trọ số 31 đường BP) chính là người đã đột nhập vào phòng trọ số 97 lấy trộm tài sản, do đó đã báo Công an Phường 10, Quận 6 giải quyết.

Ngày 16/3/2021, Lê Hoàng V bị Công an phường An Lạc, quận Bình Tân bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua đấu tranh, V khai nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản tại phòng trọ số 97, khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F vào tối ngày 17/02/2021. Vụ việc được Công an phường An Lạc, quận Bình Tân chuyển giao Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng V khai: Khoảng 22 giờ ngày 17/02/2021, sau khi đi chơi về đến phòng trọ số 28 (tầng trệt), khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F, V đã nảy sinh ý định đột nhập vào phòng trọ số 97 (tầng 1), khu nhà trọ số 31 lấy trộm tài sản (do trước đó, V có mang đồ ăn lên tầng 1 cho một người quen nên thấy người tại phòng trọ số 97 thường đi vắng vào buổi tối). Để thực hiện ý định, V dùng đầu nhọn của cây giũa bằng kim loại (V lấy trong giỏ xách đồ nghề của cha V) tra vào lỗ ổ khóa ngoài cạy mạnh làm bung ổ khóa. Khi mở được cửa phòng, V vào trong lấy trộm của ông Nguyễn Hoàng T 01 ba lô màu đen để sát tường bên phải (hướng từ ngoài cửa vào), bên trong ba lô có 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen, 01 tai nghe Airpod 2 màu trắng và số tiền 700.000 đồng; lấy của bà Nguyễn Ngọc A1 04 bao lì xì màu đỏ để trong ngăn kéo tủ đặt sát góc tường bên trái (hướng từ ngoài cửa vào), bên trong mỗi bao lì xì có 100.000 đồng (V lấy hết tiền, còn 04 bao lì xì thì vứt bỏ tại chỗ), 01 chai nước hoa đã sử dụng (không rõ nhãn hiệu) để trên bàn trang điểm (sát góc tường phải và tường trong cùng), 01 chiếc ví nữ để trên kệ sát tường bên trái (hướng từ ngoài cửa vào), bên trong ví có 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Huỳnh A2, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Ngọc A1, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Trang Nghiêm; lấy của ông Nguyễn Anh H 01 chiếc ví nam để dưới sàn nhà (gần tường trong cùng), bên trong ví có 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy đăng ký xe đều mang tên Nguyễn Anh H. Sau đó, V để tất cả tài sản vừa chiếm đoạt được vào ba lô màu đen rồi đi bộ đến cầu Phạm Văn Chí. Tại đây, V lấy 02 chiếc ví, 01 tai nghe và các giấy tờ tùy thân vứt xuống kênh Lò Gốm, còn chiếc máy tính xách tay thì V đem đến khu vực đường Ba Tháng Hai, Quận 10 (không xác định được địa điểm) bán cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) lấy 1.000.000 đồng. Sau đó, V trốn lên Bình Dương đến ngày 16/3/2021, V quay lại Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt giữ như nêu trên.

Bị hại Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Ngọc A1 và người làm chứng khai cũng tương tự.

Riêng ông Nguyễn Anh H khai: Khoảng 19 giờ ngày 17/02/2021, ông H đến phòng trọ của bà Nguyễn Ngọc A1 chơi. Trước khi đi ăn, ông H để chiếc túi đeo tại phòng trọ, bên trong túi có khoảng 10.000.000 đồng và 01 chiếc ví nam (bên trong ví có khoảng 2.500.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy đăng ký xe mang tên của ông). Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đi ăn về, ông phát hiện bị mất số tài sản trên và ông yêu cầu Lê Hoàng V phải bồi thường cho ông toàn bộ số tiền bị mất tổng cộng là 12.500.000 đồng.

Tại ba Kết luận định giá tài sản số: 59/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 3 năm 2021; số: 85/KL-HĐĐGTS ngày 07 tháng 5 năm 2021 và số: 165/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 10 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của 01 Laptop hiệu Dell Latitude, 01 tai nghe Airpod 2 và một số tài sản khác tại thời điểm ngày 17/02/2021, cụ thể như sau:

- 01 Laptop hiệu Dell Latitude E7370 M5-6Y57, Ram 8Gb, SSD 256Gb Graphics 515/13.3 inch FHD, màu đen (tình trạng sử dụng còn khoảng 70%), có giá là 4.000.000 đồng.

- 01 tai nghe Airpod 2 màu trắng (tình trạng sử dụng còn khoảng 90%), có giá là 2.300.000 đồng.

Còn 01 chai nước hoa, 01 chiếc ví nam, 01 chiếc ví nữ, do không cung cấp đầy đủ thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá (không có nhãn hiệu, không có mã sản phẩm), nên Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 từ chối định giá.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 86/QĐ-HS); khởi tố bị can đối với Lê Hoàng V về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 53/QĐKTBC-HS).

Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Hoàng V về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Hoàng V khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi đột nhập vào phòng trọ số 97 (tầng 1), khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F vào tối ngày 17/02/2021 lấy trộm 01 chiếc ba lô màu đen (bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Dell, 01 tai nghe màu trắng và số tiền 700.000 dồng); 04 bao lì xì màu đỏ (bên trong mỗi bao có 100.000 đồng); 02 chiếc ví (bên trong có một số giấy tờ tùy thân); 01 chai nước hoa đã qua sử dụng như nội dung bản cáo trạng nêu và bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng T. Bị cáo xác nhận ngoài số tài sản trên, thì bị cáo không có chiếm đoạt tài sản nào khác như ông Nguyễn Anh H đã khai, nên bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Hoàng V như bản cáo trạng, đồng thời đại diện Viện kiểm sát căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định trường hợp Lê Hoàng V bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 121/2018/HSST ngày 26/11/2018) và bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 15/2019/HSST ngày 21/02/2019) được coi là không có án tích, do đó bị cáo không có tiền án. Và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Lê Hoàng V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Buộc bị cáo Lê Hoàng V nộp lại 400.000 đồng, là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Lê Hoàng V bồi thường cho ông Nguyễn Hoàng T số tiền 7.000.000 đồng.

Đối với 12.500.000 đồng mà ông Nguyễn Anh H khai bị mất và yêu cầu bị cáo Lê Hoàng V bồi thường. Xét ngoài lời khai của ông H không còn chứng cứ nào khác thể hiện ông có để số tiền trên tại phòng trọ số 97, khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F và ông H cũng không chứng minh được Lê Hoàng V là người chiếm đoạt tiền của ông, nên không có căn cứ để xem xét buộc bị cáo bồi thường.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa hiệu Zsolex (đã bị cạy hư thành ba bộ phận riêng lẻ: thân ổ khóa, móc khóa, viên bi tròn); 04 vỏ bao lì xì màu đỏ; 01 thanh kim loại màu đen xám dài 35cm.

Đối với 01 USB hiệu Kingston 2Gb màu xanh (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Lê Hoàng V lấy trộm tài sản tại khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F vào ngày 17/02/2021 - BL171) đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Bị cáo Lê Hoàng V không tranh luận và cũng không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối chiếu lời khai của bị cáo Lê Hoàng V tại phiên tòa với Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera, Biên bản khám nghiệm hiện trường và Thực nghiệm điều tra của Công an Quận 6; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản số: 59/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2021, số: 85/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2021 và số: 165/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của các ông bà Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Anh H, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Huỳnh A2 và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hoàng V đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Hoàng V với ý định phạm tội có từ trước, đã dùng cây giũa bằng kim loại cạy bung ổ khóa cửa phòng trọ số 97 (tầng trệt), khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F vào tối ngày 17/02/2021 để chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàng T 01 ba lô màu đen, bên trong ba lô có 01 Laptop màu đen (hiệu Dell Latitude E7370 M5-6Y57, Ram 8Gb, SSD 256Gb Graphics 515/13.3 inch FHD) trị giá 4.000.000 đồng, 01 tai nghe Airpod 2 màu trắng trị giá 2.300.000 đồng và số tiền 700.000 đồng; chiếm đoạt của bà Nguyễn Ngọc A1 04 bao lì xì màu đỏ, bên trong mỗi bao lì xì có 100.000 đồng (trong đó có 03 bao lì xì của các ông, bà Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Anh H, Nguyễn Huỳnh A2 gửi bà A1 cất giữ) cùng một số giấy tờ tùy thân (tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 7.400.000 đồng. Riêng 01 chai nước hoa, 01 chiếc ví nam, 01 chiếc ví nữ, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 từ chối định giá do không cung cấp đầy đủ thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá). Hành vi này của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an chung. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Hoàng V là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút đột nhập vào nhà người khác chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo Lê Hoàng V ngày 20/4/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản»; ngày 26/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản»; ngày 21/02/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Mặc dù bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí, phần bồi thường của 03 bản án trên, nhưng bản án ngày 20/4/2016 bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi. Còn hai bản án ngày 26/11/2018 và ngày 21/02/2019, lúc phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi và bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, nên theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì các trường hợp này được coi là không có án tích, do đó tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát xác định bị cáo Lê Hoàng V không có tiền án là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần, bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người hết sức xem thường pháp luật. Ngoài ra, ngày 27/5/2021 bị cáo còn Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoàng V đã hoàn thành, việc bị cáo bị phát hiện và bị bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Lê Hoàng V còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo Lê Hoàng V đã chiếm đoạt và làm thiệt hại của ông Nguyễn Hoàng T 01 Laptop hiệu Dell Latitude E7370 M5-6Y57, Ram 8Gb, SSD 256Gb Graphics 515/13.3 inch FHD, màu đen trị giá 4.000.000 đồng; 01 tai nghe Airpod 2 màu trắng trị giá 2.300.000 đồng và số tiền 700.000 đồng. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông T yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông trị giá các tài sản trên tổng cộng là 7.000.000 đồng (theo Biên bản ghi lời khai ngày 25/6/2021 của Công an Quận 6 - BL57). Xét yêu cầu của ông T là có cơ sở và bị cáo cũng đồng ý bồi thường, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày ông Nguyễn Hoàng T có đơn yêu cầu thi hành án bị cáo Lê Hoàng V chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, bị cáo Lê Hoàng V còn phải trả ông Nguyễn Hoàng T khoản lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với ông Nguyễn Anh H, mặc dù tại Cơ quan điều tra Công Quận 6 ông H khai bị mất số tiền 12.500.000 đồng, nhưng ông H không chứng minh được Lê Hoàng V là người chiếm đoạt số tiền trên của ông và ông cũng không yêu cầu bị cáo Lê Hoàng V bồi thường gì trong vụ án này (theo Đơn trình bày ngày 21/10/2021 của ông Nguyễn Anh H), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Riêng các bà Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Huỳnh A2, Huỳnh Thị Cẩm T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo ba Biên bản ghi lời khai ngày 26/4/2021, ngày 02/7/2021 và ngày 21/7/2021 của Công an Quận 6 - BL41, 48, 101), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Việc xử lý vật chứng: 01 ổ khóa hiệu Zsolex (đã bị cạy hư thành ba bộ phận riêng lẻ: thân ổ khóa, móc khóa, viên bi tròn); 04 vỏ bao lì xì màu đỏ; 01 thanh kim loại màu đen xám dài 35cm, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 66/PNK ngày 23 tháng 3 năm 2021 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 55/QĐ-VKS-Q6 ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6)

Đối với 01 USB hiệu Kingston 2Gb màu xanh (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Lê Hoàng V lấy trộm tài sản tại khu nhà trọ số 31 đường BP, Phường J, Quận F vào ngày 17/02/2021 - BL171) đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu Cơ quan điều tra Công an Quận 6, là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Còn số tiền 400.000 đồng để trong 04 bao lì xì đỏ, là tiền do bị cáo Lê Hoàng V phạm tội mà có (các ông, bà Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Anh H, Nguyễn Ngọc A1, Nguyễn Huỳnh A2 không yêu cầu bị cáo bồi thường), nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Lê Hoàng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V (Hiếu) 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lê Hoàng V bồi thường cho ông Nguyễn Hoàng T 7.000.000 (bảy triệu) đồng.

Kể từ ngày ông Nguyễn Hoàng T có đơn yêu cầu thi hành án bị cáo Lê Hoàng V chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng, bị cáo Lê Hoàng V còn phải trả ông Nguyễn Hoàng T khoản lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo Lê Hoàng V nộp lại 400.000 (bốn trăm ngàn) đồng, là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khóa hiệu Zsolex (đã bị cạy hư thành ba bộ phận riêng lẻ: thân ổ khóa, móc khóa, viên bi tròn); 04 (bốn) vỏ bao lì xì màu đỏ; 01 (một) thanh kim loại màu đen xám dài 35cm.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Hoàng V phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 (ba trăm năm mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Lê Hoàng V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Ngọc A1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ