vanban.org

Bản án 63/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2021. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Phú - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-ST
Ngày: 14.9.2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Thị Thanh Bình

2. Nguyễn Công Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bão - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021; Thông báo thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 66/TB-TA ngày 16 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/QĐ-HSST ngày 11 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu P (Tên gọi khác: Win) - Sinh ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ 56 phường Hòa Khánh B, quận L , thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu Chính (Sinh năm 1963) và bà: Phan Thị Ánh (Sinh năm 1969). Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03.

Tiền án: Chưa.

Tiền sự:

- Ngày 21/10/2019, bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Xâm hại sức khỏe người khác và ném gạch đá vào nhà người khác, theo Quyết định số 269/QĐ-XPHC.

- Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 09/QĐ-TA.

- Ngày 01/7/2020, bị Công an huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Xâm hại sức khỏe người khác, theo Quyết định số 146/QĐ-XPHC.

Nhân thân: Ngày 22/6/2019, bị Công an quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Hủy hoại tài sản, theo Quyết định số 203.

Bị cáo Nguyễn Hữu P bị tạm giam từ ngày 08/3/2021. (Có mặt).

* Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Hữu Phú: Bà Nguyễn Thị Kim A – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ: Số 06 đường Hà Đông 1, phường Xuân H, quận T Trần Tuấn, thanh phố Đà Nẵng (Có mặt).

* Bị hại: Ông Trần T – Sinh năm 1991; Nơi cư trú: K151/H82 Âu Cơ, phường Hòa Khánh B, quận L , thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h30’ ngày 29/12/2020, Nguyễn Hữu P đứng chơi ở gần nhà mình tại tổ 56, phường Hòa Khánh B, quận L thì thấy anh Trần T đi xe máy ngang qua, liếc nhìn mình và đi về phòng trọ tại K151/H82 Âu Cơ, phường Hòa Khánh B, quận L . Thấy vậy, Phú liền đến gần anh Tuấn và hỏi: “Mi mần chi ở đây”, anh Tuấn trả lời “Em thuê trọ ở đây”, Phú tiếp tục hỏi “Mi đi mô về”, anh Tuấn trả lời “Em đi làm về” sau đó anh Tuấn đi vào phòng và đóng cửa phòng lại. Nguyễn Hữu P cho rằng anh Tuấn coi thường mình, nên Phú về nhà lấy 02 con dao dắt vào đai quần sau lưng, sau đó Phú đi bộ đến trước cửa phòng trọ của anh Tuấn gõ cửa. Khi anh Tuấn vừa mở cửa phòng thì Phú dùng tay trái đánh một cái vào người anh Tuấn, anh Tuấn đưa tay lên đỡ thì Phú rút một con dao ra chém trúng tay phải của anh Tuấn. Anh Tuấn vừa lùi lại vừa đưa tay lên đỡ thì Phú chém tiếp ba nhát vào tay khiến anh Tuấn ngã ngồi xuống nền nhà và chảy máu nhiều. Lúc này, Phú ngừng chém và bỏ đi ra ngoài, Phú vứt hai con dao trước nhà rồi bỏ đi. Anh Tuấn được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tang vật thu giữ:

- 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đỏ sẫm.

- 01 con dao bản vuông dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đen.

Theo Kết luận giám định pháp y thương tích số: 82/C09C-Đ3 ngày 22/01/2021 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng đối với thương tích của Trần Tuấn: Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái: 01%; 02 sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng trái kèm đứt gân duỗi các ngón II, III, IV, V, đã khâu nối, sẹo ngang: 01%, sẹo dọc: 02%; Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái: 01%; sẹo mỏm trâm trụ phải kèm đứt gân duỗi cổ tay trụ, đã khâu nối: 01%; 04 sẹo mặt mu khớp liên đốt gần ngón II, III, IV, V bàn tay phải, kèm đứt gân duỗi các ngón II, III, IV, V, đã khâu nối, mỗi sẹo 01%; sẹo mặt mu khớp liên đốt xa ngón II bàn tay phải: 01%; sẹo mặt mu đốt 2 ngón IV bàn tay phải: 01%; sẹo xuyên đinh: 01%; gãy mỏm trâm trụ phải: 06%; gãy đầu xa đốt 1 ngón IV bàn tay phải: 02%. Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần T tại thời điểm giám định là 19% (mười chín phần trăm).

* Về phần dân sự: Anh Trần T yêu cầu bị cáo Phú bồi thường số tiền 82.487.000 đồng (Tám mươi hai triệu bốn trăm tám mươi bảy ngàn đồng), hiện Phú chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 02 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2, Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích” và áp dụng các điểm đ khoản 2, Điều 134; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Hữu P từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đỏ sẫm và 01 con dao bản vuông dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đen.

Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra, bị hại anh Trần T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 82.487.000 đồng. Nay anh Tuấn chỉ yêu cầu bị cáo Phú bồi thường số tiền 45.000.000đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) nên đề nghị HĐXX xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu P thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng đối với bị cáo như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đồng thời đề nghị HĐXX cứu xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn để cân nhắc đưa ra mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố và không cso ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Bị hại anh Trần T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thể hiện yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 45.000.000đồng và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Liên Chiểu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, kết quả giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19h30’ ngày 29/12/2020, tổ 56, phường Hòa Khánh B, quận L , thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Hữu P đang đứng trước dãy trọ K151/H82 Âu Cơ thì gặp anh Trần T đi xe máy ngang qua, mặc dù không có mâu thuẫn gì nhưng Phú đã sử dụng hung khí nguy hiểm là con dao chém liên tiếp vào tay khiến anh Tuấn ngã ngồi xuống nền nhà và chảy nhiều máu. Hậu quả bị cáo Nguyễn Hữu P gây thương tích cho bị hại Tuấn với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19% (Mười chín phần trăm). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 02 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu P rất manh động liều lĩnh, côn đồ thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm trúng vào người và tay bị hại Trần T là nguy hiểm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình, hậu quả để lại thương tích cho anh Tuấn 19%. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Nguyễn Hữu P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu và có tiền sự về các hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm là cần thiết.

Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo nên HĐXX vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như ý kiến đề xuất của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại anh Trần T yêu cầu bị báo bồi thường số tiền 82.487.000 đồng. Tại đơn xin xử xử vắng mặt, anh Tuấn chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 45.000.000đồng. Xét yêu cầu trên là có căn cứ và bị cáo Nguyễn Hữu P đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo Phú phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đỏ sẫm và 01 con dao bản vuông dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đen là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Nguyễn Hữu P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 47, Điều 48; Điểm đ, khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Các điều 584; 586 và 590 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu P 03 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2021.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần T số tiền 45.000.000đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đỏ sẫm và 01 con dao bản vuông dài 33cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu đen.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.6.2021).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu P phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000đồng (Hai triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người bào chữa của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện KSND TP Đà Nẵng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện KSND quận Liên chiểu;

- Công an quận Liên Chiểu;

- Chi cục THADS quận Liên Chiểu;

- Trại giam Công an TP Đà Nẵng;

- Người tham gia tố tụng;

- Sở tư pháp;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Trƣơng Thị Hồng Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ