vanban.org

Bản án 63/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Châu Quốc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Châu Quốc Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Châu Quốc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-ST
Ngày 25 – 11 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mua - Cán bộ hưu trí huyện Tam Bình

2. Ông Trịnh Thanh Sơn - Phó Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tam Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Huỳnh Long – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Châu Quốc Đ, sinh năm 2002 tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Khóm A, phường CV, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Quốc N và bà Nguyễn Thị Thúy H.

Tiền án: Không.

Tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định số 0001129/QĐ-XPHC ngày 26/5/2020 bị Công an phường CV, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt).

Nhân thân: Tại Bản án 06/2021/HS-ST ngày 29/01/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (đã xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/6/2021 đến nay – có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Nguyễn Quốc C, sinh ngày 01/12/2004 tại thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Khóm B, phường TP, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 (chết).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/6/2021 đến nay – có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc C: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1968; nơi cư trú: Khóm 5, phường TP, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C: Bà Nguyễn Thị Hồng T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long (có mặt)

Địa chỉ: đường NH, Phường A, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị hại: Cháu Phan Thiên P, sinh ngày 04/6/2014 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Phan Thiên P: Chị Lê Thị Triều T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: ấp PSC, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Lê Thị Triều T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp PSC, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm 4, phường CV, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1968 (có mặt)

Nơi cư trú: Khóm 5, phường TP, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Anh Lê Thanh D, sinh năm 2002 (vắng mặt)

5/ Chị Hồ Thanh T3, sinh năm 1984 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Khóm TT, thị trấn TQ, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.

6/ Anh Phạm Huỳnh Trọng N2, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm 1, phường TP, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/6/2021, chị Lê Thị Triều T1, sinh năm 1987 ngụ ấp PSC, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long đến Công an xã LP trình báo sự việc: Vào khoảng 08 giờ 39 phút cùng ngày, con ruột chị là cháu Phan Thiên P, sinh ngày 04/6/2014 đang cầm một điện thoại di động hiệu Oppo A37 màu vàng (điện thoại do chị T1 sở hữu) để chơi game bên trong tiệm làm tóc Thủy T2 (do chị T1 làm chủ) thuộc ấp B, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long thì bị hai thanh niên giật lấy điện thoại trên rồi nhanh chóng lên xe tẩu thoát.

Qua làm việc đối tượng Châu Quốc Đ và Nguyễn Quốc C đã thừa nhận hành vi cướp giật tài sản như trên, cụ thể:

Vào khoảng 07 giờ ngày 13/6/2021, Đ rủ C đi tìm tài sản của người khác để trộm bán lấy tiền tiêu xài thì C đồng ý. Bị cáo Đ mượn xe mô tô hiệu Exciter, biển số 64K1 – 320.56 của anh Lê Thanh D chở C ngồi phía sau đi từ thị xã BM đến huyện TB để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ 39 phút cùng ngày, Đ và C đi đến trước tiệm làm tóc Thủy T2 do chị Lê Thị Triều T1 làm chủ thì nhìn thấy cháu Phan Thiên P đang cầm 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A37 để chơi game nên cả hai nảy sinh ý định giật điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Đ dừng xe lại, kêu C lên cầm lái xe mô tô biển số 64K1 – 320.56. Đ một mình đi vào tiệm làm tóc Thủy T2 dùng tay giật lấy một điện thoại di động hiệu Oppo A37 của cháu P đang cầm trên tay rồi nhanh chóng lên xe do C điều khiển chạy tẩu thoát khỏi hiện trường. Sau đó, Đ đem điện thoại di động trên bán cho anh Phạm Huỳnh Trọng N2 là chủ tiệm điện thoại KC được số tiền 500.000 đồng, Đ dùng mua đồ ăn uống và tiêu xài cá nhân hết 400.000 đồng, chia cho C 100.000 đồng, số tiền được chia C đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Exciter, biển số 64K1 – 320.56.

- 01 (một) áo sơ mi màu đen, hiệu QWEn, đã qua sử dụng của Nguyễn Quốc C.

- 01 (một) quần Jean, màu xanh và 01 (một) đôi dép có đế bằng nhựa, quai dép bằng vải của Châu Quốc Đ.

- 14 (mười bốn) đoạn video và 02 (hai) hình ảnh ghi lại hành vi đi tìm tài sản, thực hiện hành vi phạm tội và tẩu thoát của Đ và C được lưu trữ trong 03 (ba) đĩa DVD.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL.ĐGTS ngày 07/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình kết luận: Một điện thoại di động hiệu Oppo A37 đã qua sử dụng trị giá là 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng).

Xử lý vật chứng:

Chuyển các vật chứng sau đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình quản lý:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Exciter, biển số 64K1 – 320.56.

- 01 (một) áo sơ mi màu đen, hiệu QWEn, đã qua sử dụng.

- 01 (một) quần Jean, màu xanh và 01 (một) đôi dép có đế bằng nhựa, quai dép bằng vải.

Đối với 14 (mười bốn) đoạn video và 02 (hai) hình ảnh được lưu trữ trong 03 (ba) đĩa DVD đã được lưu vào hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Triều T1 đã nhận số tiền là 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng) gồm: 300.000 đồng do bà Nguyễn Thị Thúy H là mẹ ruột của bị cáo Đ và 300.000 đồng do ông Nguyễn Hữu M là cha ruột của bị cáo C bồi thường nên không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Bà H và ông M không yêu cầu bị cáo Đ và bị cáo C trả lại số tiền trên.

Tại Cáo trạng số: 55/CT-VKSTB ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố các bị cáo là đúng hành vi, không oan, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đối với hành vi của anh Phạm Huỳnh Trọng N2 không biết điện thoại di động hiệu Oppo A37 là tài sản do Đ và C phạm tội mà có nên không đặt ra xem xét trách nhiệm đối với anh N2.

Đối với hành vi của anh Lê Thanh D không biết Đ và C dùng xe mô tô biển số 64K1 – 320.56 do anh D quản lý, sử dụng để đi cướp giật tài sản nên không đặt ra xem xét trách nhiệm đối với anh D.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Châu Quốc Đ mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) áo sơ mi màu đen, hiệu QWEn, đã qua sử dụng; 01 (Một) quần Jean màu xanh; 01 (Một) đôi dép có dế bằng nhựa, quai dép bằng vải.

Tiếp tục tạm giữ một xe mô tô biển số 64K1 – 320.56 giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tam Bình xử lý theo quy định pháp luật.

- Bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C trình bày quan điểm bảo vệ: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quốc C. Tuy nhiên, xin Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết; về vai trò của bị cáo C không phải là người trực tiếp lấy tài sản, chỉ là người giúp sức, nghe lời xúi giục của bạn bè mới phạm tội; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường cho bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Do đó, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C mức án 09 (Chín) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xong tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 08 giờ 39 phút ngày 13/6/2021, tại tiệm làm tóc Thủy T2 thuộc ấp B, xã LP, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long. Các bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C đã thực hiện hành vi cướp giật 01 (một) điện thoại đi động hiệu Oppo A37 trị giá 600.000 đồng của cháu Phan Thiên P, sinh ngày 04/6/2014 đang cầm trên tay rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

Xét hành hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có sức khỏe, nhưng thích sống hưởng thụ, lười lao động. Các bị cáo biết rõ cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội, bị hại trong vụ án này mới hơn 07 tuổi, là trẻ em còn quá nhỏ và không có khả năng tự vệ hay chống cự đối với bị cáo. Riêng bị cáo Đ có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không ăn năn, hối cải, không sửa chữa hành vi sai trái của mình mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Hai bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm, trong đó Đ vừa là người xúi giục C phạm tội, vừa là người thực hành, còn C có vai trò là người giúp sức cho Đ thực hiện hành vi phạm tội. Giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Châu Quốc Đ xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội nhưng tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo C là có căn cứ chấp nhận một phần.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 (Một) áo sơ mi màu đen, hiệu QWEn, đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) quần Jean màu xanh;

+ 01 (Một) đôi dép có đế bằng nhựa, quai dép bằng vải.

- Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tam Bình quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô hiệu Exciter, biển số 64K1 – 320.56 và xử lý theo quy định pháp luật.

Hiện các vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2021.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Châu Quốc Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Châu Quốc Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021.

2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 (Một) áo sơ mi màu đen, hiệu QWEn, đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) quần Jean màu xanh;

+ 01 (Một) đôi dép có dế bằng nhựa, quai dép bằng vải.

- Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Tam Bình quản lý, xác minh làm rõ nguồn gốc chiếc xe mô tô hiệu Exciter, biển số 64K1 – 320.56 và xử lý theo quy định của pháp luật.

Hiện các vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2021.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Châu Quốc Đ, Nguyễn Quốc C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ