- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HS-ST Ngày: 14/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọ và ông Phạm Hữu Ái
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2021/TLST-HS ngày 22/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXXST-HS ngày 01/12/2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn T (tên gọi khác: Na), sinh năm 1982 tại Bình Thuận, Nơi ĐKHKTT: Thôn 9, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn X (chết) và bà Trần Thị L (chết) có vợ là Lê Thị N và 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Bị Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo bản án số 2252/HSPT ngày 19/11/2003 hiện chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt ngày 02/10/2021 đến ngày 03/10/2021 bị tạm giữ, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ của Công an huyện Hàm Tân, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bà Bùi Thị A, sinh 1986 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn G, xã T, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 2/2020, Phạm Văn T đến sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở thôn G, xã T, huyện HT. Trong thời gian ở đây, T thấy ở hiên sau nhà chị Bùi Thị A thuộc thôn G, xã T có để 01 máy giặt hiệu Toshiba (loại 8,2kg) nên rạng sáng ngày 15/10/2020 T nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý đồ trên, khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, T lén lút đi vào hiên sau nhà chị A quan sát thấy máy giặt Toshiba vẫn còn để ở đây, xung quanh không có ai nên T lấy máy giặt khiêng tẩu thoát ra hướng sau nhà chị A, khi đi đến chuồng heo (bỏ hoang) sau nhà chị A, T phát hiện bên trong chuồng heo có để 02 cách cửa bằng gỗ căm xe, mỗi cánh có kích thước (0,6 x 2,2)m nên nảy sinh ý định trộm cắp đem về sử dụng, T để máy giặt xuống rồi lấy 02 cách cửa đem ra giấu ở bờ suối phía sau nhà chị A, sau đó quay lại lấy máy giặt đem cất giấu trong đám keo tràm của người dân, cách nhà cha mẹ T khoảng 100 mét. Đến ngày 22/10/2020, khi bị Công an xã Tân Thắng mời lên làm việc thì T khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời chỉ chỗ cất giấu các tài sản nêu trên cho Công an xã Tân Thắng thu giữ, sau đó T bỏ trốn đến ngày 02/10/2021 thì bị bắt theo quyết định truy nã.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 01/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hàm Tân xác định:
- 01 máy giặt màu trắng hiệu Toshiba loại 8,2kg có giá trị 3.907.000 đồng;
- 02 cánh cửa bằng gỗ Căm xe (kích thước 0,6 x 2,2m/cánh) có giá trị 3.233.000 đồng.
Vật chứng thu giữ trong án gồm: 01 máy giặt hiệu Toshiba (loại 8,2kg) và 02 cách cửa bằng gỗ căm xe, mỗi cánh có kích thước (0,6 x 2,2)m. Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho bị hại.
Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo trạng.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 16/11/2021 của VKSND huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS;
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo qua đó VKS giữ nguyên quyết định truy tố.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo đã bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng chưa thi hành xong về phần dân sự nên chưa được xóa án tích do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS, qua đó VKS nên đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 18 tháng tù.
Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề nghị xem xét.
Về vật chứng: 01 máy giặt hiệu Toshiba (loại 8,2kg) và 02 cách cửa bằng gỗ căm xe, mỗi cánh có kích thước (0,6 x 2,2)m. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho bị hại là phù hợp nên không yêu cầu xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng không lao động chân chính để kiếm tiền mà khoảng 03 giờ 30 phút ngày 15/10/2020, tại nhà chị Bùi Thị A thuộc thôn G, xã T, huyện HT, Phạm Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy giặt hiệu Toshiba loại 8,2Kg và 02 cánh cửa bằng gỗ Căm Xe, kích thước mỗi cánh (0,6 x 2,2)m có tổng giá trị 7.140.000 đồng. Mặc dù bị cáo đã thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản nhưng mang tính chất liên tục nên việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân căn cứ vào tổng giá trị của hai lần chiếm đoạt tài sản của Phạm Văn T để truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội.
Hành vi lén lút trộm cắp tài sản có tổng giá trị như đã nêu trên đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy HĐXX cần xử lý thật nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Năm 2003, bị cáo đã bị xét xử 02 năm về tội “Vi phạm quy định về diều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và đã chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên về phần dân sự thì đến nay bị cáo vẫn chưa chấp hành nên chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Vật chứng vụ án gồm: 01 máy giặt hiệu Toshiba (loại 8,2kg) và 02 cách cửa bằng gỗ căm xe, mỗi cánh có kích thước (0,6 x 2,2)m. Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho bà Bùi Thị A là phù hợp.
Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tình từ ngày bắt bị cáo, ngày 02/10/2021.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.
* Nơi nhận:
| -VKSND tỉnh; - VKSND, CA huyện Hàm Tân; - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận - Nhà tạm giữ CA huyện Hàm Tân - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS Hàm Tân; - UBND địa phương nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Anh Dũng |