vanban.org

Bản án 63/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày tạm giam 01/01/2021.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày tạm giam 01/01/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật H nh sự; Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HS-PT
Ngày: 30-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lực;

Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu, Bà Từ Thị Hải Dương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị M Hạnh – Thư k T a án nh n d n t nh Quảng B nh;

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Qu ng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở T a án nh n d n T nh Q xét xử phúc thẩm công khai vụ án h nh sự thụ l số 52/2021/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Lê Văn T, do có kháng cáo của bị cáo này đối với Bản án h nh sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 22-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện L, T nh Q.

Bị cáo Lê Văn T sinh ngày 28 tháng 01 năm 1993 tại huyện L, T nh Q; nơi cư trú: Thôn T, xã T1, huyện L, T Q; nghề nghiệp: Thợ x y; tr nh độ học vấn: Không biết chữ; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị T; có vợ và hai con; tiền án, tiền sự: Không; nh n th n: Ngày 06/5/2014, bị Công an huyện L, T nh Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 23/6/2016, bị T a án nh n d n huyện Vĩnh Linh, T Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 17/2016/HSST; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 31/12/2020 cho đến nay; có mặt tại phiên t a phúc thẩm.

Ngoài ra, trong vụ án c n có các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn T, có các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng xét thấy không liên quan đến việc xem xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn T nên T a án không triệu tập đến phiên t a phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 29/12/2020, sau khi ăn nhậu cùng nhau, Lê Văn H rủ Lê Văn T, Nguyễn Văn T đi trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 của H, chở H và T1 đến trước nhà chị Võ Thị G ở thôn P, xã H, huyện L, T Q. Tại đ y, T đứng đợi ngoài đường, còn H và T1 vào trong hiên nhà lấy trộm một máy phát điện, đưa ra bỏ lên xe mô tô, rồi cả ba đẩy xe mô tô đi theo đường ra xã Ngư Thủy, được khoảng 30m th dừng lại để t m chỗ giấu máy phát điện. Sau khi t m được chỗ và cất giấu được máy phát điện, T ở lại giữ xe mô tô, còn H và T1 quay lại nhà chị Gấm tiếp tục bắt trộm 10 con gà, đưa ra chỗ T , rồi cả ba đưa số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị H ở thôn T, xã M, huyện L, T Q được số tiền 1.100.000 đồng. Sau khi bán gà, T chở H và T1 về nhà T , T1 ngh lại đ y, còn T và H quay lại chở máy phát điện về nhà T cất giấu. Số tiền bán gà cả ba chia nhau, T và T1 mỗi người được 330.000 đồng, H được 440.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Máy phát điện và 10 con gà có tổng giá trị 6.800.000 đồng.

Ngoài ra, quá tr nh điều tra c n chứng minh được Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 đã thực hiện các vụ trộm khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 18/11/2020, Lê Văn H đến trang trại nuôi heo của anh Hoàng Trường T, ở thôn 2 T, xã T, huyện L, t nh Q, bắt trộm 04 con heo giống lai rừng. Sau đó đem bán cho Hoàng Đức C ở Bản C, xã K 03 con được 2.500.000 đồng, c n 01 con H làm thịt ăn.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 04 con heo giống lai rừng có tổng giá trị 8.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 11/12/2020, Lê Văn H đến nhà ông Lê Đăng V ở thôn S, xã S, huyện L, t nh Q bắt trộm một con heo màu trắng, có khối lượng 17kg, sau đó đem bán cho Nguyễn Văn T ở thôn Q, xã L, huyện L, t nh Q được 1.700.000 đồng.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Con heo màu trắng có giá trị 3.150.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 15/12/2020, Lê Văn H đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến quán tạp hóa của chị Hoàng Thị D ở thôn X, xã X, huyện L, t nh Q lấy trộm 07 thùng bia Sài g n, 01 thùng nước RedBull, 03 thùng nước Super Horse, 04 c y thuốc Hồng Hà, 01 c y thuốc White Horse, 01 thùng sữa Fami, 01 thùng sữa Vinamilk, 03 kg đường phèn, 10 gói bột ngọt Aji ngon, 10 chai nước mắm Nam Ngư, 24 chai dầu ăn loại 01 lít, 05 can dầu ăn loại 05 lít, 11 c y dao Thái, 10 cây kéo, 10 đôi tất ch n, 01 bộ dao Nhật và 100.000 đồng tiền ng n hàng Nhà nước Việt Nam.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Toàn bộ số hàng tạp hóa có tổng giá trị 7.174.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 02 giờ ngày 20/12/2020, Lê Văn H cùng Lê Văn T và Nguyễn Văn T1, đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà ông Ngô Mậu H ở thôn L, xã A, huyện L, T nh Q, bắt trộm 12 con gà. Sau đó cả ba đưa 10 con gà lai đến bán cho chị Ngô Thị Hà ở thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L được 950.000 đồng, 02 con gà c n lại, T , H , T1 làm thịt ăn. Số tiền bán gà, T và T1 mỗi người được 300.000 đồng, H được 350.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 12 con gà có tổng giá trị 2.075.000 đồng.

Vụ thứ năm: Khoảng 01 giờ ngày 26/12/2020, H , T và T1 đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà chị Cái Thị T ở thôn M, xã M, huyện L, T nh Q, bắt trộm 10 con gà lai chọi. Sau đó cả ba đưa số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị H ở thôn T, xã M, huyện L được 1.680.000 đồng. Số tiền bán được, cả ba chia nhau.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 10 con gà lại chọi có tổng giá trị 2.000.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Khoảng 01 giờ ngày 27/12/2020, H , T , T1 đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà chị Lê Thị M L ở thôn X, xã L, huyện L, T nh Q, bắt trộm 08 con gà kiến. Sau đó cả ba đưa toàn bộ số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị H ở thôn T, xã M, huyện L được 500.000 đồng. Số tiền bán gà, T , T1 mỗi người được 150.000 đồng, H được 200.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự đã định giá và kết luận: 08 con gà kiến có tổng giá trị 2.200.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ 10 c y dao; 02 cái kéo; 03 chai mước mắm; 05 chai dầu ăn; 01 gói hạt nêm; 03 con heo; 01 máy phát điện; 01 cái k m; 01 xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111, tất cả có đặc điểm mô tả như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu các ngày 29, 30 và 31 tháng 12 năm 2020. Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu và người quản l hợp pháp. Riêng xe mô tô, cái k m và cái kéo đang tiếp tục tạm giữ.

Về dân sự: Bị hại ông Lê Đăng V đã nhận lại tài sản bị mất; các bị hại chị Võ Thị G, anh Hoàng Trường T đã nhận lại một phần tài sản bị mất, số tài sản c n lại, các bị cáo và gia đ nh đã bồi thường theo yêu cầu. Các bị cáo và gia đ nh đã bồi thường cho các bị hại khác, cụ thể: Bồi thường cho anh Ngô Mậu H số tiền 1.600.000 đồng, chị Cái Thị T số tiền 1.800.000 đồng, chị Lê Thị M L số tiền 1.600.000 đồng và trả lại tiền cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Anh Hoàng Đức Chung số tiền 800.000 đồng anh Nguyễn Văn T số tiền 850.000 đồng. Các bị hại và người liên quan đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu g thêm. Riêng bị hại chị Hoàng Thị D đã nhận lại một số tài sản bị mất, chị có yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng đối với số tài sản chưa thu hồi được, bị cáo Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường 3.500.000 đồng, số tiền c n lại chưa bồi thường.

Bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSNDLT ngày 19/4/2021 của Viện kiểm sát nh n d n huyện Lệ Thuỷ đã truy tố các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật H nh sự.

Bản án H nh sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 22-6-2021 của T a án nh n dân huyện L, T nh Q đã xét xử các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 về tội trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s, b khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù, xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo Nguyễn văn T1 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm c n tuyên về trách nhiệm bồi thường d n sự, xử l vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/6/2021, bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo, nội dung cho rằng trong quá tr nh giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận ra khuyết điểm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả thiệt hại, hiện tại bị cáo có hoàn cảnh gia đ nh rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đ nh, bản th n có bệnh l là hở van tim hai lá, hở động mạch chủ; v vậy, bị cáo xin giảm nhẹ h nh phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tại không giam giữ để có điều kiện gánh vác trách nhiệm với gia đ nh và điều trị bệnh cho bản th n

Tại phiên t a phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát có kiến với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T , v h nh phạt mà T a án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp; tại phiên t a phúc thẩm bị cáo không có t nh tiết g mới để xem xét thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án mà bản án sơ thẩm đã xác định hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo Lê Văn T tại phiên t a phúc thẩm hôm nay. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn T đã thực hiện đúng như xác định của Bản án sơ thẩm của T a án nh n d n huyện L và tại phần nội dung của Bản án phúc thẩm này.

. Lê Văn T đã có hành vi cùng với các bị cáo Lê Văn H , Nguyễn Văn T1 thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.700.000 đồng. Hành vi này phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự về tội trộm cắp tài sản. Do đó Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn T về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự là đúng pháp luật.

. Bị cáo Lê Văn T có nh n th n xấu, các năm 2014, 2016 đã bị xử phạt hành chính và bị xử phạt tù cho hưởng án treo về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản th n. Lần phạm tội này, bị cáo Lê Văn T tuy không phải là người chủ mưu, vai tr trong vụ án có hạn chế hơn so với các bị cáo khác, nhưng vẫn thể hiện sự tích cực khi thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự là “phạm tội hai lần trở lên”; có các t nh tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”. Với các t nh tiết như trên của vụ án, án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án khởi điểm 06 tháng tù của loại h nh phạt tù quy định tại khung h nh phạt của khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự là có căn cứ.

. Tuy vậy, xét thấy hoàn cảnh Lê Văn T sức khỏe hiện tại đang trong t nh trạng xấu, bị cáo vừa phải nằm viện trong một thời gian dài để phẫu thuật thay van động mạch chủ, thay van hai lá; t nh trạng sức khỏe này của bị cáo c n kéo dài; mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, khung h nh phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự về tội trộm cắp tài sản có quy định loại h nh phạt cải tạo không giam giữ. Do đó, thấy rằng việc không cách ly bị cáo khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hành phạt cải tạo không giam giữ với sự giám sát của chính quyền địa phương, một mặt nhằm thể hiện sự nh n đạo của pháp luật, nhưng mặt khác vẫn đảm bảo tính giáo dục răn đe, ph ng ngừa chung. V lẽ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng có thể thỏa mãn kháng cáo của bị cáo Lê Văn T , sửa án sơ thẩm, chuyển cho bị cáo Lê Văn T được hưởng loại h nh phạt cải tạo không giam giữ.

. Xét thấy sức khỏe bị cáo xấu, thu nhập không ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

. Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cần được giữ nguyên.

. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí T a án, không buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng H nh sự, sửa Bản án sơ thẩm như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các khoản 1, 2, 3 Điều 36 Bộ luật H nh sự, phạt bị cáo Lê Văn T 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản, thời gian chấp hành h nh phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Ty, huyện L, T nh Q nhận được Quyết định thi hành án, Bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Văn T trong thời gian chấp hành h nh phạt cải tạo không giam giữ.

Trong thời gian chấp hành h nh phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo Lê Văn T phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Lê Văn T cho Uỷ ban nh n d n xã T, huyện L, T nh Q giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành h nh phạt, gia đ nh bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Lê Văn T thay đổi nơi cư trú, thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án h nh sự.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí T a án, buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự sơ thẩm, nhưng không phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 30-9-2021.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND T nh Q;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng PC 10 CA T nh Q;

(Đã k )

- CQĐT; VKS; TAND huyện L;

- Vụ GĐKT 1 TAND tối cao;

- Sở Tư pháp;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Hoàng Quảng Lực

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM HUYỆN L

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Q Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày: 22/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ – TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Nhàn

Các Hội thẩm nh n d n: Ông Đỗ Trung Tu n

Ông Trương Quang Huy

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư k Toà án nh n d n huyện Lệ Thuỷ, T nh Q.

- Đ i di n VKSND huy n L Thuỷ tham gia phiên toà: Ông Dương Đại Phong, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở T a án nh n d n huyện L, T nh Q mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án h nh sự thụ l số: 27/2021/TLST-HS ngày 19/4/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 18/5/2021, Quyết định H phiên t a số: 08/2021/HSST-QĐ ngày 01/6/2021 đối với các bị cáo:

1/ Lê Văn H , sinh ngày: 12/11/1995 tại huyện L, T nh Q; nơi đăng k HKTT và chỗ ở: Thôn T n H a, xã T n Thủy, huyện L, T nh Q; nghề nghiệp: Thợ x y; tr nh độ văn hoá: Lớp 8/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Nự, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1968; vợ: Nguyễn Thị Thuyền, sinh năm 1996; con: Có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 01/01/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2/ Lê Văn T , sinh ngày: 28/01/1993 tại huyện L, T nh Q; nơi Đăng k HKTT và chỗ ở: Thôn T n H a, xã T n Thủy, huyện L, T nh Q; nghề nghiệp: Thợ x y; trình độ văn hóa: Không biết chữ; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Nự, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1968; vợ: Nguyễn Như Ý, sinh năm 1993; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/5/2014, bị Công an huyện L, T nh Q xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 23/6/2016, bị T a án nh n d n huyện Vĩnh Linh, T Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về Tội trộm cắp tài sản tại bản án số 17/2016/HSST. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/12/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên t a.

3. Nguyễn Văn T1, sinh ngày: 02/02/1991 tại huyện L, T nh Q; nơi đăng k HKTT và chỗ ở: Thôn Lệ B nh, xã Mai Thủy, huyện L, T nh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hóa: Lớp 9/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Chiến, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị An, sinh năm 1955; vợ: Bùi Thị Vượng, sinh năm 1990, con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/5/2014, bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L từ ngày 01/01/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên t a.

- Bị hại:

+ Chị Võ Thị Gấm, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Phù Lưu, xã Hưng Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Anh Hoàng Trường Thọ, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn 3 Thanh Tân, xã Thanh Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Ông Lê Đăng Viếng, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Sen Đông, xã Sen Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Chị Hoàng Thị Duyên, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn Xuân Lai, xã Xuân Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Ông Ngô Mậu Hiệu, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn Lộc Hạ, xã An Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Chị Cái Thị Tuyên, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn Mai Thượng, xã Mai Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Chị Lê Thị M Lệ, sinh năm 1974, nơi cư trú: Đội 1, thôn Xu n Hồi, xã Liên Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn Trường, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Quy Hậu, xã Liên Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Anh Hoàng Đức Chung, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản Chuôn, xã Kim Thủy, huyện L, T nh Q, vắng măt;

+ Chị Ngô Thị Hà, sinh năm 1975, nơi cư trú: Thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt;

+ Chị Hoàng Thị Lĩnh, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn 3, Thanh T n, xã Thanh Thủy, huyện L, T nh Q, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ ngày 29/12/2020, sau khi ăn nhậu cùng với Lê Văn T và Nguyễn Văn T1, Lê Văn H rủ T và T1 đi trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 của H , chở H và T1 đến trước nhà chị Võ Thị Gấm ở thôn Phù Lưu, xã Hưng Thủy, huyện L, T nh Q th dừng lại. T đứng đợi ngoài đường c n H và T1 vào trong hiên nhà lấy trộm máy phát điện bỏ lên xe mô tô. Cả ba đẩy xe mô tô đi theo đường ra xã Ngư Thủy khoảng 30m th dừng lại giấu máy phát điện. Sau đó T ở lại giữ xe, H và T1 quay lại nhà chị Gấm bắt trộm 10 con gà lai đưa ra chỗ T rồi cả ba đưa số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị Hà ở thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L, T nh Q được 1.100.000 đồng. Sau khi bán gà T chở H và T1 về nhà T , T1 ở lại c n T và H quay lại chở máy phát điện về nhà T cất giấu. Số tiền bán gà cả ba chia nhau, T và T1 mỗi người được 330.000 đồng, H được 440.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Máy phát điện và 10 con gà có tổng giá trị 6.800.000 đồng.

Ngoài ra, Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 c n thực hiện các vụ trộm khác:

Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 18/11/2020, Lê Văn H đến trang trại nuôi heo của anh Hoàng Trường Thọ, ở thôn 2, Thanh M , xã Thanh Thủy, huyện L, T nh Q, bắt trộm 04 con heo lai rừng. Sau đó, đem bán cho Hoàng Đức Chung ở Bản Chuôn, xã Kim Thủy 03 con được 2.500.000 đồng, c n 01 con H làm thịt ăn.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 04 con heo giống lai rừng có tổng giá trị 8.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 11/12/2020, Lê Văn H đến nhà ông Lê Đăng Viếng ở thôn Sen Đông, xã Sen Thủy, huyện L, T nh Q bắt trộm một con heo màu trắng, có trọng lượng 17kg. Sau đó đem bán cho Nguyễn Văn Trường ở thôn Quy Hậu, xã Liên Thủy, huyện L, T nh Q được 1.700.000 đồng.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Con heo màu trắng có giá trị 3.150.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 15/12/2020, Lê Văn H đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến quán tạp hóa của chị Hoàng Thị Duyên ở thôn Xu n Lai, xã Xu n Thủy, huyện L, T nh Q, lấy trộm 07 thùng bia Sài g n, 01 thùng nước RedBull, 03 thùng nước Super Horse, 04 c y thuốc Hồng hà, 01 c y thuốc White Horse, 01 thùng sữa Fami, 01 thùng sữa Vinamilk, 03 kg đường phèn, 10 gói bột ngọt Aji ngon, 10 chai nước mắm Nam ngư, 24 chai dầu ăn loại 01 lít, 05 can dầu ăn loại 05 lít, 11 c y dao Thái, 10 c y kéo, 10 đôi tất đeo ch n, 01 bộ dao Nhật và 100.000 đồng tiền ng n hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: Toàn bộ số hàng tạp hóa có tổng giá trị 7.174.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 02 giờ ngày 20/12/2020, Lê Văn H cùng Lê Văn T và Nguyễn Văn T1, đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà ông Ngô Mậu Hiệu ở thôn Lộc Hạ, xã An Thủy, huyện L, T nh Q, bắt trộm 12 con gà (01 con gà chọi, 01 con gà tre, 10 con gà lai). Sau đó cả ba đưa 10 con gà lai đến bán cho chị Ngô Thị Hà ở thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L được 950.000 đồng, 02 con gà c n lại, T , H , T1 để lại làm thịt ăn. Số tiền bán gà, T và T1 mỗi người được 300.000 đồng, H được 350.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 12 con gà có tổng giá trị 2.075.000 đồng.

Vụ thứ năm: Khoảng 01 giờ ngày 26/12/2020, H cùng với T và T1 đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà chị Cái Thị Tuyên ở thôn Mai Thượng, xã Mai Thủy, huyện L, T nh Q, bắt trộm 10 con gà lai chọi. Sau đó cả ba đưa số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị Hà ở thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L được 1.680.000 đồng. Số tiền bán được, cả ba chia nhau.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h nh sự định giá và kết luận: 10 con gà lại chọi có tổng giá trị 2.000.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Khoảng 01 giờ ngày 27/12/2020, H , T , T1 đi xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111 đến nhà chị Lê Thị M Lệ ở thôn Xu n Hồi, xã Liên Thủy, huyện L, T nh Q, bắt trộm 08 con gà kiến. Sau đó cả ba đưa toàn bộ số gà trộm được đến bán cho chị Ngô Thị Hà ở thôn Thuận Trạch, xã M Thủy, huyện L được 500.000 đồng. Số tiền bán gà, T , T1 mỗi người được 150.000 đồng, H được 200.000 đồng.

Hội đồng định giá trong tố tụng h nh sự đã định giá và kết luận: 08 con gà kiến có tổng giá trị 2.200.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ 10 c y dao; 02 cái kéo; 03 chai mước mắm; 05 chai dầu ăn; 01 gói hạt nêm; 03 con heo; 01 máy phát điện; 01 cái k m; 01 xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111, tất cả có đặc điểm mô tả như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu các ngày 29, 30 và 31 tháng 12 năm 2020. Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu và người quản l hợp pháp. Riêng xe mô tô; cái kìm và cái kéo đang tiếp tục tạm giữ.

Về dân sự: Bị hại ông Lê Đăng Viếng đã nhận lại tài sản bị mất; các bị hại chị Võ Thị Gấm, anh Hoàng Trường Thọ đã nhận lại một phần tài sản bị mất, số tài sản c n lại, các bị cáo và gia đ nh đã bồi thường theo yêu cầu. Các bị cáo và gia đ nh đã bồi thường cho các bị hại khác, cụ thể: Bồi thường cho anh Ngô Mậu Hiệu số tiền 1.600.000 đồng, chị Cái Thị Tuyên số tiền 1.800.000 đồng, chị Lê Thị M Lệ số tiền 1.600.000 đồng và trả lại tiền cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Anh Hoàng Đức Chung số tiền 800.000 đồng anh Nguyễn Văn Trường số tiền 850.000 đồng. Các bị hại và người liên quan đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu g thêm. Riêng bị hại chị Hoàng Thị Duyên đã nhận lại một phần tài sản bị mất, chị yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường 3.500.000 đồng, số tiền c n lại chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSNDLT ngày 19/4/2021, Viện kiểm sát nh n d n huyện Lệ Thuỷ đã truy tố các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật H nh sự. Qua tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tu n theo pháp luật tại phiên t a giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự xử phạt Lê Văn H từ 15 đến 18 tháng tù; xử phạt Lê Văn T từ 06 đến 09 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 06 đến 09 tháng tù; vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật H nh sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự: Tịch thu nộp vào ng n sách Nhà nước xe mô tô, tiêu hủy k m và kéo; về d n sự, đề nghị áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật h nh sự; các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật d n sự, xử buộc bị cáo Lê Văn H phải bồi thường cho chị Hoàng Thị Duyên số tiền c n lại là 3.500.000 đồng. Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có yêu cầu bồi thường g nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nh n d n huyện L và Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tr nh tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Các bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có kiến khiếu nại g về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:

Tại phiên t a, các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 đều đã khai nhận tất cả hành vi phạm tội của m nh như đã khai tại Cơ quan điều tra. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi lợi dụng đêm khuya mọi người đã ngủ say, lén lút trộm cắp tài sản của các chủ sở hữu trên địa bàn huyện L, trong đó Lê Văn H thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản, g y thiệt hại với tổng trị giá 31.499.000 đồng; Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 thực hiện 04 vụ, gây thiệt hại với tổng trị giá 13.075.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật H nh sự.

. Xét vai tr thực hiện và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với từng bị cáo và t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; g y mất trật tự trị an trên nhiều địa bàn các xã thuộc huyện L. Trong tất cả các lần cùng T , T1 trộm cắp tài sản, bị cáo Lê Văn H là người chủ động rủ rê và chuẩn bị công cụ, phương tiện như: Xe mô tô, kìm, kéo, bao lác, đồng thời là người thực hiện hành vi với vai tr là người thực hành chủ yếu, tài sản trộm cắp bán được chia phần H cũng nhiều hơn; bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 là đồng phạm với vai tr là người thực hành, nhưng xét toàn bộ vụ án, Lê Văn H có vị trí, vai tr chủ yếu và cao hơn T và T1. Đ y là vụ án có đồng phạm nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Xét về nh n th n của các bị cáo: Tất cả các bị cáo đều được coi là chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính 01 lần, bị cáo T đã từng bị T a án xét xử 01 lần, do đó, H có nh n th n tốt, T và T1 có nh n th n không tốt. Trong vụ án này, H đã thực hiện 07 lần trộm cắp tài sản mà mỗi lần đều có giá trị trên hai triệu đồng; Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản mà mỗi lần đều có giá trị trên hai triệu đồng nên cả ba bị cáo đều thuộc trường hợp phải chịu t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội đối với từng bị cáo nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo và ph ng ngừa tội phạm chung.

. T nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:

Trong quá tr nh nghiên cứu toàn bộ nội dung vụ án cũng như xét hỏi công khai tại phiên t a, Hội đồng xét xử thấy, sau khi phạm tội các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã cùng gia đ nh tự nguyện bồi thường thiệt hại cho những người bị hại và hoàn trả lại tiền cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thể hiện thái độ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo Nguyễn Văn T1 có bố ông Nguyễn Văn Chiến, là người có công với cách mạng nên khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh sự đối với tất cả các bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T1 áp dụng thêm t nh tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần h nh phạt, thể hiện chính sách nh n đạo của pháp luật. Ngoài ra, tại phiên t a ngày 01/6/2021, gia đ nh bị cáo Lê Văn T có nộp một đơn xin H phiên t a kèm theo đơn xin xác nhận về việc bị cáo đang điều trị bệnh tim tại Bệnh viện Trung ương Huế. Sau đó nộp tiếp bản sao bệnh án, 01 bản sao giấy ra viện, 02 bản phô tô giấy chứng nhận phẫu thuật, 01 bản phô tô đơn thuốc và 01 giấy hẹn tái khám phô tô, Hội đồng xét xử đã xem xét nhưng không thuộc trường hợp áp dụng t nh tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.

.Trong vụ án này, Lê Văn H khai: Có đối tượng tên Linh ở thôn Đông Thành, xã Liên Thủy, huyện L, T nh Q cùng tham gia với H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hiện đối tượng Linh đi khỏi địa phương chưa lấy được lời khai, Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra, xử l sau; đối với chị Ngô Thị Hà, anh Nguyễn Văn Trường, anh Hoàng Đức Chung là những người mua tài sản do các bị cáo trộm cắp đem bán, anh Nguyễn Văn Trường c n giúp bị cáo gọi người mua tài sản nhưng những người này không biết rõ đó là tài sản do phạm tội mà có nên không phạm tội.

.Vật chứng vụ án: Số vật chứng Cơ quan điều tra đã tạm giữ và đã trả lại cho các chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111, cái kìm và cái kéo đang tạm giữ của bị cáo H là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ng n sách Nhà nước xe mô tô, tịch thu tiêu hủy cái kìm và cái kéo là phù hợp với Điều 46, Điều 47 của Bộ luật H nh sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự.

.Về d n sự: Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, tại phiên t a họ đều vắng mặt nhưng lời khai tại Cơ quan Điều tra họ không có yêu cầu bồi thường g thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng bị hại chị Hoàng Thị Duyên vắng mặt nhưng tại phiên t a H ngày 01/6/2021, chị Duyên thể hiện bức xúc và yêu cầu bồi thường tiếp 3.500.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy, vụ trộm cắp tài sản tại quầy tạp hóa của chị Duyên, H khai đã thực hiện cùng với Linh, Hội đồng định giá đã định giá tổng tài sản của chị Duyên bị trộm cắp là: 7.174.000 đồng, chị Duyên yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng, H đã tự nguyện bồi thường trước cho chị Duyên 3.500.000 đồng. Hiện nay chị Duyên tiếp tục yêu cầu bồi thường 3.500.000 đồng, đối tượng tên Linh đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, H nhất trí bồi thường tiếp cho chị Duyên nên cần buộc bị cáo bồi thường cho chị Duyên phần c n lại 3.500.000 đồng. Sau này làm rõ đối tượng tên Linh, H có quyền yêu cầu Linh chịu trách nhiệm liên đới là phù hợp với các Điều 46, 48 của Bộ luật h nh sự và các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật d n sự.

.Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm và án phí d n sự sơ thẩm theo luật định.

.Quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 173 của Bộ luật H nh sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 phạm Tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự:

- Xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày tạm giam 01/01/2021. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng);

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật H nh sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/01/2021. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo T1 10 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án (có quyết định riêng).

Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật H nh sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự: Tuyên tịch thu nộp vào ng n sách Nhà nước xe mô tô biển kiểm soát 43K9-2111; tịch thu tiêu hủy cái kìm và cái kéo. Hiện các vật chứng trên đang tạm giữ và bảo quản tại Chi cục Thi hành án d n sự huyện L theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án d n sự huyện L ngày 26/4/2021.

Căn cứ Điều 46 và Điều 48 của Bộ luật H nh sự; các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật d n sự: Xử buộc bị cáo Lê Văn H có nghĩa vụ bồi thường tiếp cho chị Hoàng Thị Duyên 3.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng h nh sự; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án: Tuyên các bị cáo Lê Văn H , Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm mỗi người 200.000 đồng, riêng Lê Văn H phải chịu thêm án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng để nộp vào ng n sách Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/6/2021); bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu T a án nh n d n T nh Q xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ