- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Ông Lê Quang Hồng Đ; BĐ: Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Quang Hồng Đ.
- Căn cứ chính? Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2021/HNGĐ-ST Ngày: 29-11-2021 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chi.
Bà Cao Thị Én.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký TAND tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phan Quốc Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021, về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Quang Hồng Đ, sinh năm: 1993.(vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D), sinh năm: 1983.(vắng mặt)
Địa chỉ: XXXX Brenston Dr Ellenwood, GA XXXX, USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của ông Lê Quang Hồng Đ:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 118/2017 vào ngày 13/7/2017. Sau khi đăng ký kết hôn, Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) đã trở về Mỹ làm thủ tục bảo lãnh ông, trong thời gian chờ Sở Di trú xét duyệt và chấp thuận cấp visa cho ông thì giữa ông và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) phát sinh mâu thuẩn do bất đồng về quan điểm sống. Từ đó cho đến nay Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) không trở về Việt Nam và cả hai cũng không còn liên lạc gì với nhau. Nay ông nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai cũng không còn tình cảm với nhau nên ông xin được ly hôn Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D).
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Theo bản tự khai vào ngày 22/9/2021 của Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D):
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2008 bà xuất cảnh sang Mỹ theo diện kết hôn và sau đó ly hôn do cuộc sống không hạnh phúc. Năm 2017, khi về Việt Nam thăm gia đình bà có gặp gỡ, tìm hiểu ông Lê Quang Hồng Đ và phát sinh tình cảm, sau đó bà và ông Đ đã tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 118/2017 vào ngày 13/7/2017. Sau đó, bà đã trở về Mỹ làm thủ tục bảo lãnh ông Đ sang, trong thời gian chờ Sở Di trú xét duyệt và chấp thuận cấp visa cho ông Đ thì giữa bà và ông Đ phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, sau hai năm giữa bà và ông Đ đã không còn liên lạc gì với nhau cho đến nay. Nay bà cũng nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm cả hai đối với nhau cũng không còn nên bà xin được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Hiện tại cả hai đều xác định tình cảm không còn và xin được ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Đ.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Đ và bà Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) đều khai không có nên được xác định là không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Quang Hồng Đ có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại tỉnh Đồng Nai; Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi Doa hiện đang sinh sống tại Hoa kỳ nên căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) đều có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và vắng mặt khi xét xử nên căn cứ theo quy định tại các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2017 (được UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 118/2017 ngày 13/7/2017) nên căn cứ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xác định hôn nhân giữa ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) là hợp pháp.
Theo ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D), trong thời gian làm thủ tục bảo lãnh ông Đ sang Mỹ thì cả hai đã phát sinh nhiều mâu thuẩn bất đồng, nguyên nhân là do thời gian tìm hiểu về nhau quá ngắn nên về sau nhận thấy quan điểm sống không hòa hợp nên cả hai đã không còn liên lạc gì với nhau nữa. Hiện tại cả hai xác định không còn tình cảm với nhau và có nguyện vọng được ly hôn nên nhận thấy nếu kéo dài thời gian cho cả hai hòa giải, hàn gắn cũng không có kết quả. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Quang Hồng Đ, giải quyết cho ông Đ được ly hôn Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D).
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Lê Quang Hồng Đ và Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) đều khai không có nên được xác định là không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Đ phải chịu 300.000 đồng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 37, 147, 207, 227, 228, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Quang Hồng Đ. Ông Lê Quang Hồng Đ được ly hôn Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D).
2.Về con chung: Không có.
3.Về tài sản chung: Không có.
4.Về nợ chung: Không có.
5.Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Quang Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông Đ đã nộp tại biên lai thu số 0000017 ngày 01 tháng 11 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Ông Lê Quang Hồng Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Bà Doan, Tuyet T (Tuyet Thi D) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; - UBND huyện C; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thảo |