vanban.org

Bản án 63/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trương Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phúc K, sinh ngày 22/8/2017 cho bà Trương Thị Cẩm V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Trương Thị Cẩm V không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc C cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Cẩm V và Nguyễn Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trương Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2021/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 11 năm 2021
V/v: ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh

- Các hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Lai

- Ông Lê Qúi Hùng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 151/2021/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HNGD ngày 12/10/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Cẩm V, sinh năm: 1990; địa chỉ: 02A Đông Phước, phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1971; địa chỉ: Thôn Cửu Lợi 3, xã Cam Hòa, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm V trình bày:

- Về yêu cầu ly hôn: Bà V và ông C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 27/01/2016. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2018. Nguyên nhân hai bên bất đồng quan điểm về vấn đề kinh tế trong gia đình, bản thân ông C còn cờ bạc gây nợ nần dẫn đến vợ chồng thường xuyên kình cãi. Ông C đã từng ly hôn, tính tình không thay đổi; bà V khuyên nhủ thì ông C chửi bới, xúc phạm rồi đe dọa, đòi đánh đập, bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Cam Hòa, huyện C. Đến tháng 5/2021, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay bà V không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà V và ông C có một con chung là Nguyễn Ngọc Phúc K, sinh ngày 22/8/2017. Con chung khỏe mạnh bình thường, không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Ngọc C không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Theo biên bản xác minh ngày 03/8/2021 tại Công an xã Cam Hòa thì ông Nguyễn Ngọc C có hộ khẩu thường trú tại thôn Cửu Lợi 3, xã Cam Hòa, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Tại thời điểm xác minh, ông C không có mặt tại nơi cư trú nhưng ông C thường xuyên có đi về tại địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Trương Thị Cẩm V và ông Nguyễn Ngọc C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên tòa ngày 28/10/2021, ngày 15/11/2021; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

Về yêu cầu ly hôn: bà V và ông C tự nguyện kết hôn với nhau năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Phước Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 27/01/2016; đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà V và ông C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, ông C không có trách nhiệm cùng với bà V để chăm lo cuộc sống gia đình nên luôn xảy ra kình cãi, xúc phạm nhau. Bà V và ông C đã cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không giải quyết được mâu thuẫn, từ tháng 5/2021 sống ly thân. Bà V xác định không còn tình cảm đối với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà V được ly hôn với ông C.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà V và ông C có một con chung là cháu Nguyễn Ngọc Phúc K, sinh ngày 22/8/2017. Cháu K còn nhỏ và hiện đang ở với mẹ; vì vậy xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên, đảm bảo sự phát triển toàn diện và ổn định về người trực tiếp trông nom; Hội đồng xét xử giao cháu K cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà V không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: bà V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trương Thị Cẩm V được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phúc K, sinh ngày 22/8/2017 cho bà Trương Thị Cẩm V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Trương Thị Cẩm V không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Trương Thị Cẩm V và ông Nguyễn Ngọc C được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: bà Trương Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0008800 ngày 15/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ