vanban.org

Bản án 63/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 63/2021/DS-ST

HUYỆN CƯ M’GAR Độc lập- Tự do- Hạnh phúc Ngày: 29 – 9 – 2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh, bà Cao Thị Hồng Châu - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 56/2021/TLST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2021 và Thông báo chuyển thời gian xét xử ngày 30/8/2021, giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N Địa chỉ: Số 201 - 203 đường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức L (Có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Số 168 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk * Bị đơn: Ông Nguyễn Duy L – Sinh năm: 1980 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 16/5/2019, ông Nguyễn Duy L đã ký Hợp đồng tín dụng số 0537/2019/502-CV với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh Đắk Lắk

(sau đây gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền là 550.000.000đồng. Mục đích vay: Đầu tư sản xuất nông nghiệp. Thời hạn vay: 36 tháng. Lãi suất cho vay tại thời điểm vay là: 10,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được điều chỉnh theo chu kỳ thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Duy L đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0132/2019/502-BĐ ngày 16/5/2019 để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 259526 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/3/2019 cho ông Nguyễn Phương B, bà Lê Thị Bích T, đã tặng cho ông Nguyễn Duy L được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận ngày 09/5/2019, địa chỉ thửa đất tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Duy L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 17/11/2019. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông L trả nợ nhưng ông L vẫn không có thiện chí trong việc trả nợ. Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Duy L phải trả số tiền 732.392.997đồng, trong đó nợ gốc 550.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 108.307.997đồng, lãi quá hạn, lãi phạt 74.085.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử 29/9/2021, tiếp tục tính lãi suất phát sinh từ ngày 30/9/2021 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp ông L không trả được số nợ trên thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý bán phát mãi tài sản thế chấp mà ông L đã thế chấp để vay vốn. Đối với bị đơn ông Nguyễn Duy L, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đều không đến Tòa án làm việc nên không lấy lời khai của ông L được. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ, xác minh, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định pháp luật. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Duy L không chấp hành nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Duy L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền nợ gốc 550.000.000đồng và tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Trường hợp ông L không trả được số nợ trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý bán phát mãi tài sản thế chấp mà ông L đã thế chấp để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N và bị đơn là ông Nguyễn Duy L có địa chỉ tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk [2] Về thủ tục tố tụng: Theo Hợp đồng tín dụng số 0537/2019/502-CV ngày 16/5/2019 do ông Nguyễn Duy L đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh Đắk Lắk thể hiện địa chỉ của ông Nguyễn Duy L là tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Qua xác minh tại địa phương thì ông Nguyễn Duy L hiện nay không có mặt tại địa phương, khi thay đổi địa chỉ thì cũng không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N biết, thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng, Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Nguyễn Duy L theo đúng trình tự luật định. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Duy L là đúng quy định pháp luật. [3] Về nội dung vụ án: [3.1] Về hợp đồng tín dụng: Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 0537/2019/502-CV ngày 16/5/2019 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh Đắk Lắk với ông Nguyễn Duy L thì ông Nguyễn Duy L có vay của Ngân hàng số tiền là 550.000.000 đồng. Mục đích vay: Đầu tư sản xuất nông nghiệp. Thời hạn vay: 36 tháng. Lãi suất cho vay tại thời điểm vay là: 10,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được điều chỉnh theo chu kỳ thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký. Từ ngày 17/11/2019 thì ông Nguyễn Duy L không thực hiện việc trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Duy L phải trả số tiền 732.392.997đồng, trong đó nợ gốc 550.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 108.307.997đồng, lãi quá hạn, lãi phạt 74.085.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử 29/9/2021, tiếp tục tính lãi suất phát sinh từ ngày 30/9/2021 cho đến khi trả xong nợ, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ, cần chấp nhận. [3.2] Về việc xử lý tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho việc vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 0537/2019/502-CV ngày 16/5/2019 thì ông Nguyễn Duy L đã thế

chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 259526 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/3/2019 cho ông Nguyễn Phương B, bà Lê Thị Bích T, đã tặng cho ông Nguyễn Duy L được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận ngày 09/5/2019, địa chỉ thửa đất tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu thi hành án bán phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Nguyễn Duy L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên là có căn cứ, cần chấp nhận. Trường hợp ông Nguyễn Duy L trả xong toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N mà không cần phải xử lý tài sản bảo đảm thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có nghĩa vụ phải trả lại cho ông Nguyễn Duy L bản gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 259526 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/3/2019 cho ông Nguyễn Phương B, bà Lê Thị Bích T, đã tặng cho ông Nguyễn Duy L được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận ngày 09/5/2019. [4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. [5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và được nhận lại tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ bị đơn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. - Khoản 1 Điều 275, khoản 2 Điều 292, Điều 295, khoản 1 Điều 299, Điều 304, Điều 463, Điều 465 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N

- Buộc bị đơn ông Nguyễn Duy L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 732.392.997đồng, trong đó nợ gốc 550.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 108.307.997đồng, lãi quá hạn, lãi phạt 74.085.000đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử 29/9/2021 Kể từ ngày 30/9/2021, ông Nguyễn Duy L còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả xong nợ gốc với mức lãi suất các bên thỏa thuận được tính theo quy định của Hợp đồng tín dụng số 0537/2019/502-CV ngày 16/5/2019 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh Đắk Lắk với ông Nguyễn Duy L. Trường hợp ông Nguyễn Duy L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N được quyền yêu cầu thi hành án bán phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 259526 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/3/2019 cho ông Nguyễn Phương B, bà Lê Thị Bích T, đã tặng cho ông Nguyễn Duy L được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận ngày 09/5/2019. Trong trường hợp ông Nguyễn Duy L trả xong toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N mà không cần phải xứ lý tài sản bảo đảm thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có nghĩa vụ phải trả lại bản gốc của của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 259526 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 27/3/2019 cho ông Nguyễn Phương B, bà Lê Thị Bích T, đã tặng cho ông Nguyễn Duy L được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C xác nhận ngày 09/5/2019, 2. Về án phí: Ông Nguyễn Duy L phải chịu 33.295.500đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N không phải chịu án phí và được nhận lại 10.050.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016617 ngày 26/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk. 3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Duy L phải chịu 1.500.000đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 1.500.000đồng tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã nộp sau khi thu được từ ông Nguyễn Duy L. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ