- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2020/HS-ST Ngày: 07-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiệp;
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm Sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tạ Thị Ngọc Tr, sinh năm 1997; tại Đắk Lắk; nơi cư trú: Số 31, tổ 3, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Tạ Kim T và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có chồng tên Huỳnh Ngọc P và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Bà Dương Thị Nhã P, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu phố 5, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Hiệp H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/9/2019, Tạ Thị Ngọc Tr điều khiển xe đạp điện (không xác định rõ nhãn hiệu) màu xanh, trên xe có dán chữ Bomelli, đi từ ký túc xá T, địa chỉ tại tổ 91, khu 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến đường số 08 tại khu dân cư H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì Tr nhìn thấy chị Dương Thị Nhã P đang đi bộ trên đường, ở phía trước cùng chiều đi của Tr và trên tay trái của chị P có cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, màu vàng, loại 256GB. Do lúc này Tr thấy xung quanh vắng người và Tr nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên của chị P để bán lấy tiền tiêu xài nên Tr điều khiển xe đạp điện chạy từ phía sau, áp sát vào gần bên trái người chị P rồi nhanh chóng dùng tay phải giật mạnh chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu vàng trên tay trái của chị P rồi điều khiển xe đạp điện tẩu thoát. Cùng lúc này, chị P chạy bộ đuổi theo Tr và tri hô “cướp, cướp” thì ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969, cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đang điều khiển xe mô tô đi trên đường nghe tiếng tri hô nên đến chở chị P đuổi theo Tr đến đoạn đường Nguyễn Văn Trỗi tại khu vực khu phố 7, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bắt được Tr và thu giữ được số vật chứng, gồm: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, màu vàng, loại 256GB; 01 (Một) xe đạp điện, màu xanh, trên xe có dán chữ Bomelli giao cho Công an phường Hiệp Thành để lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Cùng ngày 27/9/2019, Công an phường Hiệp Thành bàn giao hồ sơ vụ việc và các vật chứng trên cùng đối tượng Tạ Thị Ngọc Tr cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một xử lý theo thẩm quyền.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 285/KLTS-TTHS ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu vàng loại 256GB, trị giá: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, màu vàng, loại 256GB, quá trình điều tra xác định điện thoại trên là tài sản của chị Dương Thị Nhã P nên ngày 11/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định xử lý vật chứng giao trả điện thoại trên cho chị P. Hiện tại, chị Phương không có yêu cầu gì đối với Tạ Thị Ngọc Tr.
Đối với 01 (một) xe đạp điện (không xác định rõ nhãn hiệu), màu xanh, trên xe có dán chữ Bomelli là tài sản của Tạ Thị Ngọc Tr sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Cáo trạng số 94/CT-VKS-HS ngày 17/3/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe đạp điện (không xác định rõ nhãn hiệu), màu xanh, trên xe có dán chữ Bomelli.
Bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp
Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/9/2019, trên đường số 8 thuộc khu dân cư Hiệp Thành 3, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tạ Thị Ngọc Tr có hành vi cướp giật 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max, màu vàng, loại 256GB, trị giá: 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) của chị Dương Thị Nhã P nên hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã thu hồi và giao trả cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Dương Thị Nhã P đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) xe đạp điện (không xác định rõ nhãn hiệu), màu xanh, trên xe có dán chữ Bomelli, là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/9/2019 đến ngày 03/10/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe đạp điện đã qua sử dụng, màu xanh, trên thân xe có dán chữ Bomelli (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 103.20 ngày 09/3/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Thị Ngọc Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sinh |