vanban.org

Bản án 63/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 07/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Nguyễn Thế T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (07/12/2020) nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THUỶ
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 63/2020/HS-ST
Ngày 07 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Toàn và ông Ngô Mậu Hiệu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Ngô Đình Mười, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 07 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2020/TLST-HS ngày 13/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/QĐXXST-HS ngày 23/11/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Thế T, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1993, tại xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế L và bà Nguyễn Thị Hồng X. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Bị hại: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1990; địa chỉ: Đội 6, thôn Q, xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/9/2020, Nguyễn Thế T đi đến nhà của anh Trần Quốc T ở thôn Q, xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình để giao trứng gà, thấy trong nhà không có ai nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi vào phòng khách thấy máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 153000, Series -3576, màu đen và điện thoại di động nhãn hiệu ASUS, loại máy Zenfone 5, màu xanh đen đặt ở trên bàn, T lấy trộm đưa về nhà của mình cất giấu.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 153000 Series -3576, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus, loại máy Zenfone 5, màu xanh đen. Ngày 18/9/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho anh Trần Quốc T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG 15/9/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã tiến hành định giá và kết luận: Máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 153000, Series -3576, màu đen có trị giá 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng); điện thoại nhãn hiệu ASUS, loại máy Zenfone 5, màu xanh đen có trị giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSNDLT ngày 13/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Nguyễn Thế T tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thế T từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[3] Bị cáo Nguyễn Thế T lợi dụng nhà anh Trần Quốc T không có người trông giữ lén lút lấy trộm máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 153000, Series -3576 trị giá 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng) và điện thoại di động nhãn hiệu ASUS, loại máy Zenfone 5 trị giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản T trộm cắp theo Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L kết luận số tiền 9.650.000đ (Chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Thế T phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội gây thiệt hại không lớn; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là thanh niên trưởng thành, có sức khoẻ nhưng lười lao động, đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình cho người mất tài sản, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích chiếm đoạt tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 153000 Series -3576, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ASUS, loại máy Zenfone 5, màu xanh đen và trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng.

Giao bị cáo Nguyễn Thế T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L1, tỉnh Quảng Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (07/12/2020) nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Nguyễn Thế T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ