vanban.org

Bản án 63/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim L về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Kim L và anh Hà Hoàng Q. Về con chung: Giao cháu Hà Hoàng K, sinh ngày 10/7/2018 cho chị Phan Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hà Hoàng Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 5/2020 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim L về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 23/4/2020
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Xuân Phong;

2. Bà Mai Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Yến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 209/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 14/2020/TB-TA ngày 13/3/2020 và số 17/2020/TB-TA ngày 31/3/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Kim L, sinh năm 1993. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hà Hoàng Q, sinh năm 1992. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn TK, xã QC, huyện QS, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quế Cường, huyện Quế Sơn vào năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống không hạnh phúc, do anh Q thường xuyên đánh đập, chửi bới, dùng những lời lẽ thô tục để xúc phạm chị và gia đình chị. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Hà Hoàng K, sinh ngày 10/7/2018. Chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh Q cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 05/2020.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Theo bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn - anh Quan trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian và điều kiện kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng cũng có xảy ra mâu thuẫn do hai vợ chồng còn trẻ và chưa hiểu ý nhau và anh thừa nhận nhiều lần đánh chị L. Sau khi được Tòa án hòa giải và tự hòa giải với nhau nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống nên anh thống nhất ly hôn với chị L.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Hà Hoàng K, sinh ngày 10/7/2018. Anh thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 05/2020.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107 và 110 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Anh Q cư trú tại thôn TK, xã QC, huyện QS, tỉnh Quảng Nam; chị L yêu cầu ly hôn và nuôi con nên quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp về “ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Q tự nguyện kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Quế Cường, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 26 tháng 12 năm 2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, chị L và anh Q thừa nhận cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn và anh Q có đánh đập chị L. Chị L và anh Q đã không sống chung với nhau. Tại phiên tòa, chị L và anh Q thống nhất ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị L và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

. Về con chung: Hiện nay, cháu K chưa đủ 36 tháng tuổi. Anh Q thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 05/2020. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 107 và 110 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử: Giao cháu K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung thành niên.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu theo quy định của pháp luật. Án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim L về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Kim L và anh Hà Hoàng Q.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Hoàng K, sinh ngày 10/7/2018 cho chị Phan Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hà Hoàng Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 5/2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Phan Thị Kim L phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007152 ngày 05/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Hoàng Q phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23-4-2020), đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ