vanban.org

Bản án 63/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thúy D và ông Nguyễn Chí U.

Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 và Nguyễn Phúc Kh (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 cho bà Phạm Thúy D trực tiếp nuôi dưỡng. 3-Ông Nguyễn Chí U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Phạm Thúy D cới ông Nguyễn Chí U"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thúy D và ông Nguyễn Chí U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10-7-2020
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Sim

Bà Phạm Hồng Ân

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thúy D, sinh năm 1989 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện N, tỉnh C .

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí U, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp S, xã N, huyện P, tỉnh C .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 02 năm 2020 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thúy D trình bày: Bà và ông Nguyễn Chí U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh C. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên

-1-nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, tính tình không hợp nhau, vợ chồng sống với nhau không còn hạnh phúc, gia đình hai bên đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Chí U. Trong quá trình chung sống bà và ông U có hai người con chung tên Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 và Nguyễn Phúc Kh (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà yêu cầu đươc trực tiếp nuôi hai người con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Nguyễn Chí U đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông U vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thúy D, cho bà Phạm Thúy D ly hôn với ông Nguyễn Chí U. Giao người hai người con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thúy D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Chí U, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Chí U là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Chí U.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thúy D với ông Nguyễn Chí U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh C nên hôn nhân của bà Phạm Thúy D với ông Nguyễn Chí U là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bà D giữ quan điểm yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí U. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Chí U nhiều lần để tham gia hòa giải và xét xử nhưng ông U vắng mặt, không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Phạm Thúy DIễm. Bà D cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm, ông U tham gia tệ nạn xã hội sử dụng ma túy và nhiều lần đánh bà, bà không còn thương yêu ông U và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2020 đến

-2-nay. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau nên hôn nhân giữa bà Phạm Thúy D với ông Nguyễn Chí U đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thúy D về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Chí U.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Phạm Thúy D với ông Nguyễn Chí U có hai người con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 và Nguyễn Phúc Kh, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011, con chung do bà D đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung. Xét thấy, con chung hiện nay do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, hai người con chung có nguyện vọng được chung sống với bà D. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản cho ông U nhưng ông U vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu nuôi con chung của bà D. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thúy D, giao hai người con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Chí U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà Phạm Thúy D, ông Nguyễn Chí U không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà D phải chịu 300.000đ, bà D đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 93 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thúy D và ông Nguyễn Chí U.

- Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 và Nguyễn Phúc Kh (giới tính nam), sinh ngày 18 tháng 7 năm 2011 cho bà Phạm Thúy D trực tiếp nuôi dưỡng.

-3-Ông Nguyễn Chí U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Bà Phạm Thúy D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019835 ngày 13 tháng 02 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Phạm Thúy D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Chí U có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ