vanban.org

Bản án 63/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn T, áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 54, Điều 38 BLHS, khoản 5 Điều 328 Bộ luật TTHS cho bị cáo Tống Văn Ch; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; đ…

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Tuy L, huyện Hậu Lộc giám sát trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? *Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn T, áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 54, Điều 38 BLHS, khoản 5 Điều 328 Bộ luật TTHS cho bị cáo Tống Văn Ch; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; đ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2019/HSST
Ngày 06 /11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

_______________________

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Hội thẩm nhân dân: Ông: Trịnh Công Kiều

Ông: Nguyễn Văn Anh- Bi thư đoàn xã Đa Lộc

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Chuyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc

Đại diện VKS nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên toà: Ông: Đoàn Văn Tuyến- Kiểm sát viên.

Ngày 06/11/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2019/HSST ngày 16/10/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62 /2019/QĐXXST- HS ngày 25/10/2019, đối với các bị cáo:

1 Họ và tên : Lê Văn T - Sinh năm 1971, Nơi ĐKHKTT và chố ở hiện nay: Thôn Phú Th, xã Tuy L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn : 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Đ (Đều đã chết); Gia đình có 05 người con , bị cáo là con thứ năm. Vợ: Lê Thị T1, vợ chồng có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

2. Họ và tên : Tống Văn Ch - Sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Phương Đ, xã Đồng L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Tống Văn C con bà: Phạm Thị M; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị Nh; vợ chồng có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Bị hại:

1. Nguyễn Văn Ch- sinh ngày 07/7/2001; Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền lợi cho bị hại là; Nguyễn Thị H -sinh năm 1981 là mẹ đẻ của bị hại. Cùng địa chỉ: thôn Thành T, xã Tuy L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Vắng mặt.

2. Nguyễn Văn Ch- sinh ngày 20/9/2003; Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền lợi cho bị hại là; Lê Thị C -sinh năm 1980 là mẹ đẻ của bị hại. Cùng địa chỉ: thôn Thành T, xã Tuy L, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt

Người làm chứng:

Lê Văn T1- sinh ngày 09 tháng 11 năm 2006; Người giám hộ là Bà: Lê Thu H-Phó bí thư huyện Đoàn huyện Hậu Lộc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lê Văn T và Lê Văn T1 là bố con ruột với nhau. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/4/2019 Lê Văn T và Lê Văn T1 cùng nhau đi thả bả để bắt cua đồng ở gần khu vực nghĩa địa thuộc thôn Phú Th, xã Tuy L. Trong khi đang thả bả để bắt cua, Lê Văn T1 rọi đèn pin xung quanh thì phát hiện có một chiếc xe máy điện của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003và Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2001 ở cùng thôn đang bắt của đồng ở gần đó.

Khi đi đến gần chiếc xe máy điện của anh Ch, Lê Văn T1 nói với Lê Văn T “bố ơi thử lật cốp xe lên xem bên trong có gì không để lấy”, nghe con trai nói vậy thì Lê Văn T đồng ý rồi cùng con trai, mỗi người một tay, lật hở một bên cốp xe lên, T giữ yên xe, T1 dùng tay phải luồn vào bên trong cốp xe, sờ thấy hai chiếc điện thoại di động liền nói với Lê Văn T “bố ơi có hai cái điện thoại, hay là lấy”, nghe vậy, T trả lời lại “ừ, lấy đi”. Khi nghe Lê Văn T trả lời, Lê Văn T1 lấy hai chiếc điện thoại di động trong cốp xe gồm một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu xám và một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J5 màu đen xám bỏ vào túi quần của Lê Văn T. Lúc này, anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003 chủ xe và bạn của mình đang đứng cách vị trí chiếc xe máy điện khoảng 50m, qua ánh đèn pin, cả hai nhìn thấy T và T1 đang cạy cốp xe và lấy điện thoại Iphone 5s của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J5 của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2001, nhưng không dám lên tiếng vì sợ bố con Tý đánh.

Sau khi trộm cắp được tài sản, Lê Văn T và Lê Văn T1 tiếp tục đi bắt cua đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì đi về nhà. Về đến nhà, T nói với T1 “mày lấy điện thoại của bố gọi cho anh Ch xuống đây”. Hiểu ý T muốn gọi Tống Văn Ch sinh năm 1991 ở thôn Phương Đ, xã Đồng L, là con rể của Lê Văn T xuống để nhờ Ch mang hai chiếc điện thoại đi động vừa trộm cắp được đi bán nên T1 dùng điện thoại của T, gọi điện thoại cho Tống Văn Ch và nói với Ch “em mới lấy trộm được hai cái máy điện thoại, anh xuống đây cầm về mà bán”. Ch nghe điện thoại xong thì chạy xe máy đến nhà Lê Văn T, mục đích là để bán giúp hai chiếc điện thoại. Khi nhìn thấy trên bàn uống nước có hai chiếc điện thoại, biết rằng hai chiếc điện thoại trên là do T1 trộm cắp được và nhờ Chính mang đi bán, nên sau khi kiểm tra thấy cả hai chiếc điện thoại đều khóa mật khẩu, Ch nói với T và T1 “cái máy SAMSUNG thì phá khóa bán được ở đây, còn cái Iphone phải mang ra Hà Nội mới phá khóa bán được”. Nghe vậy, T liền nói “mi mà bán được thì bán nhanh lên”, thì Ch trả lời lại “để con mang về bán, ngày mai nếu bán được thì con mang tiền xuống cho”. Sau đó Ch cầm hai chiếc điện thoại trên đi về nhà của mình ở thôn Phương Đ, xã Đồng L.

Khi Lê Văn T, Lê Văn T1 và Tống Văn Ch trao đổi với nhau về việc tiêu thụ hai chiếc điện thoại vừa trộm cắp được, thì anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003 và anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2001 đứng ở gần cửa sổ phía sau nhà của Lê Văn T nên đều nghe rõ, sau đó đã đến Công an xã Tuy Lộc trình báo sự việc. Ngày 24/4/2019, sau khi biết sự việc bị phát giác, Tống Văn Ch đã trả lại hai chiếc điện thoại di động trên cho Lê Văn T để giao nộp cho cơ quan điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGHS ngày 26/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND Huyện Hậu Lộc, kết luận: Tổng giá trị tài sản đề nghị định giá có giá trị 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn đồng). Trong đó, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu xám, mua tháng 9/2017, hiện tại có giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng). Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J5 màu đen, xám mua tháng 10/2018 hiện tại có giá 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Sau khi bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, nhưng Tống Văn Ch đã bỏ đi khỏi địa phương , nên đã bị Cơ quan điều tra truy nã, đến ngày 22/7/2019 bị bắt theo lệnh truy nã và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam.

Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5s của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J5 của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2001. Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu và không yêu cầu bồi thường.

Đối với Lê Văn T1, mặc dù tham gia cùng với Lê Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng tính đến thời điểm phạm tội, T1 mới 12 tuổi 05 tháng 14 ngày,chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS, nên Công an huyện Hậu Lộc đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT- VKSHL ngày 14/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Tống Văn Ch về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS cho bị cáo Lê Văn T và áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54 BLHS cho bị cáo Tống Văn Ch. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt Lê Văn T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo bị cáo Tống Văn Ch phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, xử phạt Tống Văn Ch 03 (Ba) tháng 17 (Mười bảy) ngày tù , thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/7/2019. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20h30’ ngày 23/4/2019, tại cánh đồng thuộc thôn Phú Th, xã Tuy L, Lê Văn T và Lê Văn T1 đã lén lút lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu xám có giá trị 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) , và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J5 màu đen, xám có giá trị 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 2003 và Nguyễn Văn Ch sinh năm 2001 cùng ở thôn Thành T, xã Tuy L. Tổng giá trị tài sản mà T và T1 đã trộm cắp có giá trị 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn đồng).

Sau khi lấy được tài sản, T và T1 nhờ Tống Văn Ch mang bán hai chiếc điện thoại nêu trên, biết rõ là tài sản do trộm cắp mà có, nhưng Tống Văn Ch vẫn đồng ý và mang điện thoại về nhà để tìm nơi tiêu thụ. Tuy nhiên, khi chưa kịp mang hai chiếc điện thoại đi bán thì vụ việc đã bị cơ quan chức năng phát hiện, Chính đã đưa hai chiếc điện thoại cho Lê Văn T giao nộp lại cho cơ quan điều tra. Tống Văn Ch phạm tội chưa đạt là vì nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó Tống Văn Ch phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt theo quy định tại Điều 15 BLHS.

Cáo trạng số 62/CT- VKSHL ngày 14/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Lê văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Tống Văn Ch về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ vụ án thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, xâm hại đến trật tự quản lý xã hội, do vậy cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét không cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Văn T khỏi đời sống xã hội mà cho bị cảo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Tống Văn Ch có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Nhưng sau khi bị khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỉ nơi cư trú, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ đi khỏi địa phương. Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã và bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người dân lương thiện.

[5] Vật chứng vụ án: Đã được xử lý trong quá trình điều tra.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lê Văn T, áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 54, Điều 38 BLHS, khoản 5 Điều 328 Bộ luật TTHS cho bị cáo Tống Văn Ch; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí và Lệ phí Tòa án cho cả hai bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Tuy L, huyện Hậu Lộc giám sát trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tống Văn Ch phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử phạt bị cáo Tống Văn Ch 03(Ba) tháng 17 (Mười bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 22/7/2019. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

*Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Hậu Lộc;

- Công an huyện Hậu Lộc;

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa

- Cơ quan THA huyện; - Bị cáo, bị hại

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Văn Thái HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thái

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ