- Tranh chấp gì? án hình sự — "63 - 2019 Le Hoang S K1-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê HS 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2019/HS-ST Ngày: 17 – 4 – 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Tuấn Việt.
2/ Ông Hoàng Minh Đang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh HS Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST-HS ngày 29/3/2019 đối với bị cáo: Lê HS, sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A2-20 tầng 1u, lô AX, chung cư TM khu phố Z, phường TP, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số 139 lô P, chung cư HP, Phường 1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng Minh và bà Trần Thị Cúc; vợ tên Quách Thị Phương; con: Có 01 người con (sinh năm: 2008); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
- Bị hại: Bà Huỳnh MQ, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Số 55 ĐTA, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn TN, sinh năm: 1982; nơi cư trú: Số 331 đường CU, Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ, ngày 25/9/2018, Lê HS điều khiển xe gắn máy biển số 52L6-9286 đi mua đồ cũ tại khu vực Phường 7, Quận 8. Khi đến trước nhà số 55 ĐTA, Phường 5, Quận 8 thì HS gặp bà Huỳnh MQ. Bà Huỳnh MQ gọi HS vào nhà để bán 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, màu đen đã bị hỏng, với giá 600.000 đồng; nhưng HS trả giá 200.000 đồng, nên bà Huỳnh MQ không bán. Sau đó, bà Huỳnh MQ hẹn HS 02 ngày sau quay lại để bà Huỳnh MQ bán cho HS chiếc máy tính trên. Khoảng 10 giờ, ngày 27/9/2018, HS điều khiển xe gắn máy biển số 52L6-9286 quay lại nhà bà Huỳnh MQ (địa chỉ như trên) để mua chiếc máy tính trên, HS gọi cửa nhưng lúc này bà Huỳnh MQ đã đi ra khỏi nhà. Thấy cửa nhà không khóa và không có người trông coi, nên HS quay đầu xe để tiện tẩu thoát rồi vào nhà bà Huỳnh MQ lấy trộm chiếc máy tính xách tay nêu trên cùng chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57 của bà Huỳnh MQ rồi cất giấu vào giỏ xách của HS đã để sẵn trên baga xe gắn máy biển số 52L6-9286. Sau đó, HS đem về cất giấu tại nhà của HS đang thuê ở (số 139 lô E chung cư Hưng Phú, Phường 10, Quận 8). Đến khoảng 12 giờ, ngày 27/9/2018, HS đem máy tính xách tay hiệu Sony Vaio đến khu vực chợ Nhật Tảo, Quận 10 bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29/9/2018, HS đến trước nhà số 302 Ba Đình, Phường 10, Quận 8 gặp và bán chiếc điện thoại trộm được cho ông Nguyễn TN với giá 1.800.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Vào lúc khoảng 10 giờ, ngày 07/10/2018, khi HS đang điều khiển xe gắn máy biển số 52L6-9286 đến ngã ba đường Trịnh Quang Nghị - Rạch Cùng, Phường 7, Quận 8 thì bị bà Huỳnh MQ phát hiện HS nên giữ HS lại và đến Công an Phường 7, Quận 8 trình báo.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, HS khai nhận hành vi phạm tội nêu trên. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã thu hồi chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57 do ông Nguyễn TN giao nộp và tạm giữ của HS 01 xe gắn máy biển số 52L6-9286.
Ngày 22/11/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: Trị giá còn lại của chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57 là 2.500.000 đồng. Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, do không xác định được cấu hình; nên Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở để định giá. Bà Huỳnh MQ khai về việc mua chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio vào năm 2013, với giá 13.000.000 đồng (đã bị thất lạc hóa đơn), do chiếc máy tính bị hư hỏng, nên trị giá hiện nay còn khoảng 600.000 đồng.
Ngày 07/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê HS về tội ‘‘Trộm cắp tài sản’’.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã lập biên bản trao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo model A57 cho bà Huỳnh MQ và bà Huỳnh MQ không có yêu cầu HS bồi thường gì khác. Ông Nguyễn TN cũng không có yêu cầu bị cáo HS bồi thường số tiền 1.800.000 đồng.
Chiếc xe gắn máy biển số 52L6-9286, qua điều tra xác minh do ông Phạm Phi Hùng (sinh năm 1970, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 366/85A Nguyễn Duy, Phường 9, Quận 8; tạm trú: Số 600/2/3Q Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2010, ông Hùng bán chiếc xe trên cho một người đàn ông tên Tuấn (không rõ lai lịch), khi mua bán chỉ giao giấy tờ xe mà không làm hợp đồng mua bán, sang tên. Ông Hùng xác định đã bán chiếc xe nên không còn liên quan và ông Hùng không có yêu cầu gì liên quan đến chiếc xe trên. Nguyễn Hoàng HS khai mua chiếc xe trên của một người đàn ông tên Tuấn (không rõ lai lịch) vào năm 2014 để sử dụng làm phương tiện đi lại; khi mua bán chỉ giao giấy tờ xe mà không làm hợp đồng mua bán, sang tên. Ngày 27/9/2018, HS sử dụng chiếc xe đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đề nghị Báo Thanh niên và Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đăng tin tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên, nhưng đến nay chưa có kết quả.
Đối với Nguyễn TN khi mua chiếc điện thoại di động của Lê HS bán, ông Nguyên không biết đó là tài sản trộm cắp mà có; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ sở để xử lý.
Đối với người đàn ông mua máy tính xách tay hiệu Sony Vaio của Lê HS bán, do không xác định được lai lịch, địa chỉ; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ để xử lý.
Bản cáo trạng số 56/CT – VKS ngày 27/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê HS về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Lê HS mức án từ 07 (Bảy) tháng đến 10 (Mười) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai để tìm chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật đối với chiếc xe gắn máy biển số 52L6-9286, nếu quá thời hạn thông báo mà không có người thừ nhận hợp pháp thì xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê HS đã khai nhận: Do cần tiền tiêu xài, nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57 và 01 (một) chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio của bị hại là Bà Huỳnh MQ, vào khoảng 10 giờ, ngày 27/9/2018, tại nhà số 55 ĐTA, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tài sản mà bị cáo HS chiếm đoạt, qua định giá xác định: Chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A57 là 2.500.000 đồng.
Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, do không xác định được cấu hình; nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 không có cơ sở để định giá; đồng thời, phía bị hại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ khi mua chiếc máy tính trên và không có yêu cầu bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Như vậy, tài sản bị chiếm đoạt thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê HS đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phần lớn tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, nên gây thiệt hại không lớn; phía bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm: h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Lê HS là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt một số tiền nhất định để nộp ngân sách nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị hại đã được nhận lại phần lớn tài sản; đồng thời bị hại cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường gì khác; tại phiên tòa tất cả cùng vắng mặt. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự, nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo model A57, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã thu hồi và trả lại cho bị hại là phù hợp theo quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không thu hồi được; nên không có cơ sở để xem xét xử lý.
- Đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy, biển số biển số 52L6-9286, số máy: 1P50FMG3Y0266591, số khung: L13XOH301YAA14063 (xe cũ đã qua sử dụng); hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, hiện tại bị cáo HS là người đang quản lý, sử dụng và đã dùng vào việc phạm tội; nên cần tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Nguyễn TN khi mua chiếc điện thoại di động của Lê HS bán, do không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông mua chiếc máy tính xách tay hiệu Sony Vaio của Lê HS đã trộm cắp của bà Huỳnh MQ, do không xác định được lai lịch, địa chỉ; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các điểm: h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Lê HS 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Lê HS.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy, biển số 52L6-9286, số máy: 1P50FMG3Y0266591, số khung: L13XOH301YAA14063 (xe cũ đã qua sử dụng); nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 73/PNK ngày 28/01/2019 của CQCSĐT Công an Quận 8, TP.HCM).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê HS phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm ngàn đồng).
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- PC.53 CA TP.HCM;
- Sở Tư pháp TP.HCM;
- VKSND Q.8, TP.HCM;
- Chi cục THADS Q.8;
- CQĐT CAQ.8, TP.HCM;
- CQTHAHS Q.8, TP.HCM;
- NTG CAQ.8, TP.HCM;
Trần Trọng Trúc
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------------
--------------------------
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 20 phút, ngày 17 tháng 4 năm 2019.
Tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Tuấn Việt.
2/ Ông Hoàng Minh Đang.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019, đối với: Bị cáo Lê HS, sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh:
Bị cáo Lê HS phạm toäi “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
2. Về điều luật áp dụng (điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự):
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các điểm: h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Kết quả biểu quyết : 03/03.
3. Về mức hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lê HS 08 (Tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Kết quả biểu quyết : 03/03.
4. Các vấn đề khác:
Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Lê HS.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tiếp tục tạm giữ và đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn một năm để truy tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy, biển số 52L6-9286, số máy: 1P50FMG3Y0266591, số khung: L13XOH301YAA14063 (xe cũ đã qua sử dụng); nếu quá thời hạn mà không có người thừa nhận hợp pháp thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 73/PNK ngày 28/01/2019 của CQCSĐT Công an Quận 8, TP.HCM).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê HS phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm ngàn đồng).
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 03/03.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 4 năm 2019.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Trọng Trúc
HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN THAÅM PHAÙN-CHUÛ TOÏA
Trần Trọng Trúc
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8, TP.HCM; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8, TP.HCM; - CQTHAHS Q.8, TP.HCM; - NTG CAQ.8, TP.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |