vanban.org

Bản án 63/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 08 (tám) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/01/2019. Giao cho trả cho bị cáo Phan Văn H các tài sản: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________________________
Bản án số: 63/2019/HS-ST
Ngày: 31/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuyến

2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thủy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 số 139 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 43/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2019/QĐST – HS ngày 15/7/2019 đối với bị cáo:

Phan Văn H; giới tính: nam, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Tôn Thất Thuyết, Phường X, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phan Văn H và bà Nguyễn Thị O;

Tiền án:

- Ngày 22/4/2008 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”

- Ngày 16/01/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 23/01/2019;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 23/01/2019, tổ công tác Công an Quận 3 tiến hành kiểm tra hành chính tại khách sạn số 77A Trần Quang Diệu, Phường 13, Quận 3 thì phát hiện tại phòng 302 có đối tượng Phan Văn H đang ở có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, tiếp tục kiểm tra phát hiện có 01 gói nylon chứa cây, cỏ khô và 01 gói nylon chứa 130 viên nén, 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu xanh, 03 gói nylon chứa chất bột màu trắng và 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, nghi các gói nylon trên là ma túy nên tỏ công tác đã đưa Phan Văn H về trụ sở Công an Phường 13 lập biên bản và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn H khai: Các gói nylon bị thu giữ là ma túy, H mua từ một đối tượng tên Linh (không rõ lai lịch) ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Tí Nị (không rõ lai lịch) ở Quận 4, về nhằm mục đích sử dụng. Khoảng 04 giờ ngày 23/01/2019, Phan Văn H điều khiển xe gắn máy biển số 71E1-586.84 đến khách sạn số 77A Trần Quang Diệu, Phường 13, Quận 3 để gặp bạn tên Hậu nhưng Hậu chưa đến nên H thuê phòng 302 ở lại đợi. Đến khoảng 09 giờ 40 phút thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ số ma túy như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 488/KLGĐ-H ngày 30/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Tinh thể không màu trong 04 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phan Văn H và hình dấu Công an Phường 13, Quận 3 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 10,1318 gam loại Methamphetamine;

- Chất bột màu trắng trong 03 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phan Văn H và hình dấu Công an Phường 13, Quận 3 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6849 gam loại Ketamine.

- 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phan Văn H và hình dấu Công an Phường 13, Quận 3 gửi đến giám định gồm: 130 viên nén màu xanh trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn có khối lượng 54,8156gam loại Ketamine; 05 viên nén màu xanh lá cây nhạt trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,9705 gam loại Ketamine.

Tại bản kết luận giám định số 1750/C09B ngày 26/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói nylon bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Văn H, 02 dấu vân tay màu đen niêm phong lại có chữ ký ghi tên Nguyễn Mạnh Cường, bên trong có 01 gí thảo mộc khô không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo nghị định 73/2018/NĐ-CP, có khối lượng 13,9781 gam (mẫu vật có 5-fluoro MDMB-PICA là dạng cần sa tổng hợp mới xuất hiện tại Việt Nam)

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS-HS ngày 05/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm n, o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H từ 08 đến 09 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 23/01/2019, Tại phòng 302 khách sạn số 77A Trần Quang Diệu, Phường 13, Quận 3, tổ công tác Cơ quan Công an Quận 3 bắt quả tang Phan Văn H cùng với tang vật gồm 01 bộ sử dụng ma túy và ma túy các loại qua giám định gồm có: 04 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,1318g loại Methamphetamine; 03 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 3,6849g loại Ketamine; 130 viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn có khối lượng 54,8156g loại Ketamine; 05 viên nén màu xanh lá cây nhạt là ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,9705g loại Ketamine. Số ma túy này bị cáo mua của người tên Linh (không rõ lai lịch) trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Tí Nị (không rõ lai lịch ở Quận 4 về nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang như nêu trên. Hành vi của bị cáo là đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tổng khối lượng các chất ma túy thu mà bị cáo đã tàng trữ bao gồm 10,1318g Methamphetamine và 60,471g Ketamine là thuộc trường hợp định khung quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại bản án số 12/2014/HS-ST ngày 16/01/2014 bi cáo đã bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt bị cáo H 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm g khoản 1, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù tuy nhiên đến ngày 25/02/2019 bị cáo mới thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí nên chưa được xóa án tích. Do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử có căn cứ để xử phạt bị cáo mức án theo khung hình phạt quy định tại khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố.

Bị cáo Phan Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết việc tàng trữ, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh các tội phạm khác. Do đó cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên cũng xem xét tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về vật chứng của vụ án:

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Điều tra viên) bao gồm:

+ Gói 1: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 9,8919g

+ Gói 2: Bột màu trắng (m2) có khối lượng 2,8587g

+ Gói 3: 120 viên nén màu xanh đậm (m3) có khối lượng 50,6190g; 03 viên nén màu xanh lá cây nhạt (m4) có khối lượng 1,1777g

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Trần Thị Mai (người chứng kiến) và Nguyễn Minh Duy (Điều tra viên) trong đó có 01 gói nylon đựng thảo mộc khô có khối lượng 12,1221g;

- 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một số bao nylon;

- 01 Cân tiểu ly;

Các vật chứng trên là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c, khoản 1, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các tài sản gồm:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu hồng, số imei 1:86388034016694, số imei 2: 863898034016686, màu hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc và tình trạng hoạt động bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone mặt kính màu đen, vỏ vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc và tình trạng hoạt động bên trong.

Các tài sản trên của bị cáo Phan Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm n, o, khoản 2, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phan Văn H 08 (tám) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/01/2019.

Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Giao cho trả cho bị cáo Phan Văn H các tài sản:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu hồng, số imei 1:86388034016694, số imei 2: 863898034016686, màu hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc và tình trạng hoạt động bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone mặt kính màu đen, vỏ vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc và tình trạng hoạt động bên trong.

Căn cứ khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng:

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra (Điều tra viên) bao gồm:

+ Gói 1: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 9,8919g

+ Gói 2: Bột màu trắng (m2) có khối lượng 2,8587g

+ Gói 3: 120 viên nén màu xanh đậm (m3) có khối lượng 50,6190g; 03 viên nén màu xanh lá cây nhạt (m4) có khối lượng 1,1777g

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Trần Thị Mai (người chứng kiến) và Nguyễn Minh Duy (Điều tra viên) trong đó có 01 gói nylon đựng thảo mộc khô có khối lượng 12,1221g;

- 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một số bao nylon;

- 01 Cân tiểu ly;

(Các tài sản và vật chứng trên được ghi trong lệnh xuất kho vật chứng số 28/LXK-VKS ngày 04/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Buộc bị cáo Phan Văn H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ