vanban.org

Bản án 63/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đ và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hồ Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo Hồ Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đ và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2019/HS-PT
Ngày: 28 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Việt

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa, Ông Trần Hữu Sỹ.

- Thư ký phiên tòa: Hoàng Anh Việt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa lưu động xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2019/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Hồ Đ do có kháng cáo của bị cáo Hồ Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Hồ Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974 tại xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Y, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc T và bà Cao Thị D (đều đã chết); có vợ: Đoàn Thị T và 03 người con sinh các năm 2002, 2004 và 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam, hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bị hại: Anh Hồ Xuân B, sinh năm 1972, cư trú tại: Thôn Y, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

Vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị H nhưng không có kháng cáo, có các người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo của bị cáo; Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 26 tháng 01 năm 2019, tại Hội trường thôn Y, xã P, huyện Tuyên Hoá tổ chức họp Thôn, trong lúc đang họp thì xảy ra mâu thuẫn giữa Hồ Đ là công dân trong thôn với anh Hồ Xuân B là Phó Trưởng thôn Y theo việc thu tiền nợ và tiền giống lạc vụ Đông Xuân năm 2018. Hồ Đ dùng những lời nói xúc phạm, chửi bới anh Hồ Xuân B, hai bên cãi nhau to tiếng giữa cuộc họp nhưng được mọi người can ngăn thì Hồ Đ rời khỏi cuộc họp đi đến nhà chị dâu là bà Đoàn Thị H ở cùng thôn lấy một con dao bằng kim loại, cán gỗ, dài 34 cm để trong khu vực bếp rồi quay lại Hội trường thôn Y dùng những lời nói xúc phạm, chửi bới và thách thức anh Hồ Xuân B. Do bực tức nên anh Hồ Xuân B cầm một cái ly uống nước bằng thuỷ tinh đi tới cửa Hội trường nơi Hồ Đ đang đứng và ném cái ly xuống nền nhà để doạ Hồ Đ thì Hồ Đ xông vào xô xát với anh Hồ Xuân B. Trong lúc hai bên đang xô xát nhau thì Hồ Đ lấy dao cất sẵn trong người, cầm bằng tay phải đâm một nhát trúng vào hạ sườn trái làm anh Hồ Xuân B bị thương rồi cầm dao bỏ chạy về nhà mình. Anh Hồ Xuân B được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới đến ngày 02 tháng 02 năm 2019 thì ra viện.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 04/TgT ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm Giám định Y khoa pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hồ Xuân B do thương tích gây nên là 18% (mười tám phần trăm), đồng thời đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hoá trưng cầu giám định bổ sung sau khi anh Bình điều trị ổn định và xuất viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 20/TgT ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Trung tâm Giám định Y khoa pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hồ Xuân B do thương tích gây nên hiện tại là 20% (hai mươi phần trăm).

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hoá đã thu giữ:

- 01 (một) dao, tổng chiều dài 34 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, điểm rộng nhất 07 cm, có mũi nhọn; phần cán bằng gỗ tròn, dài 11 cm, đường kính 3,5 cm. Dao đã qua sử dụng.

- 20 (hai mươi) mảnh thuỷ tinh vỡ trong suốt, gồm nhiều hình dạng và kích thước khác nhau; mảnh lớn nhất kích thước 6,2 x 6cm; mảnh nhỏ nhất kích thước 01 x 01 cm.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Hồ Đ đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị vết thương cho anh Hồ Xuân B số tiền 34.000.000 đồng (ba mươi bốn triệu đồng). Anh Hồ Xuân B không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 18/CT-VKSTH-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, truy tố bị cáo Hồ Đ về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá quyết định tuyên bố bị cáo Hồ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Tuyên xử lý vật chứng vụ án; tuyên buộc bị cáo Hồ Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm đối với bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 15 tháng 4 năm 2019, bị cáo Hồ Đ có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hồ Đ khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng truy tố và xét xử của Bản án sơ thẩm, giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Người bị hại Hồ Xuân B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo Hồ Đ theo thương tích mà bị cáo đã gây ra cho bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đ và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo lời khai thừa nhận hành vi phạn tội của bị cáo Hồ Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của người bị hại Hồ Xuân B, phù hợp với lời khai của các người làm chứng có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà sơ thẩm; phù hợp với với Kết luận giám định pháp y thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 20% do bị cáo Hồ Đ dùng dao gây ra đối với bị hại Hồ Xuân B; phù hợp với các vật chứng vụ án được thu giữ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá quyết định tuyên bố bị cáo Hồ Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Hồ Đ, Hội đồng xét xử thấy: Trong lúc xâu ẩu giữa Hồ Đ với anh Hồ Xuân B tại cuộc họp thôn Y theo việc thu tiền nợ và tiền giống lạc vụ Đông Xuân năm 2018, Hồ Đ đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm một nhát vào hạ sườn trái làm anh Hồ Xuân B bị thương rồi cầm dao bỏ chạy về nhà mình. Theo hậu quả thương tích 20% mà bị cáo đã gây ra cho bị hại Hồ Xuân B và hung khí được bị cáo dùng gây án, bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) có hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. Tuy bị cáo phạm tội có nguyên nhân mâu thuẫn từ việc cãi nhau với anh Hồ Xuân B là Phó Trưởng thôn Y theo việc thu tiền nợ và tiền giống lạc vụ Đông Xuân năm 2018 tại cuộc họp thôn Yên Tố, nhưng với tình tiết sau khi được mọi người can ngăn thì Hồ Đ rời khỏi cuộc họp đi đến nhà chị dâu là bà Đoàn Thị H ở cùng thôn lấy một con dao bằng kim loại, cán gỗ, dài 34 cm quay lại Hội trường thôn Y dùng những lời nói xúc phạm, chửi bới và thách thức anh Hồ Xuân B để lấy cớ gây sự rồi sử dụng dao mà bị cáo vừa về nhà chị dâu lấy mang đến đâm vào vùng hạ sườn trái, gây thương tích cho anh Hồ Xuân B, rồi cầm dao bỏ chạy về nhà mình thả mặc anh Hồ Xuân B nên bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 18 tháng tù và không cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.

Đơn kháng cáo của bị cáo Hồ Đ cho rằng trong lúc cãi nhau, anh Hồ Xuân B đã dùng ly uống nước ném vào người bị cáo nên bị cáo mới dùng dao đâm anh Bình nhưng theo kết quả điều tra và xét xử thì do bức xúc, anh Hồ Xuân B chỉ dùng ly uống nước ném xuống nền nhà gần vị trí Hồ Đ đang đứng chứ không ném vào người Hồ Đ.

Do bị cáo phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được Bản án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Hồ Đ mức án 18 tháng tù, dưới khởi điểm của khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét tình tiết, nội dung vụ án, hung khí được bị cáo sử dụng gây án, mức độ thương tích mà bị cáo đã gây ra cho bị hại thì hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, coi thường tính mạng, sức khoẻ người khác nên Bản án sơ thẩm đã không cho bị cáo được hưởng án treo. Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo Hồ Đ được hưởng án treo.

Bị cáo Hồ Đ phạm tội do sử dụng hung khí gây thương tích cho bị hại 20% nên bị truy tố và xét xử theo điểm đ khoản 2 Điều 134, được viện dẫn theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, Bản án sơ thẩm không viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

. Về án phí hình sự phúc thẩm đối với bị cáo Hồ Đ

Bị cáo Hồ Đ kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng vụ án, về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Đ và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 theo điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Hồ Đ.

Xử phạt bị cáo Hồ Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Bị cáo Hồ Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án; về buộc bị cáo Hồ Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (28 tháng 6 năm 2019).

Cỡ chữ