| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2019/HS-PT Ngày: 25-3-2019 [[[ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Luông;
Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 47/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Trần Sre Cao N. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Sre Cao N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Bị cáo kháng cáo: Trần Sre Cao N, sinh năm 1996 tại tỉnh Lâm Đ ng. H khẩu thư ng trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh L; tạm trú: Khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh L; nghề nghiệp: Không trình đ học vấn: 8/12; dân t c: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Trần Quý B, sinh năm 1976 và bà K’D, sinh năm 1976 tiền án: Ngày 07/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đ ng xử phạt 01 (m t) năm tù về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2018 cho đến nay có mặt.
Trong v án còn có 01 bị hại và 02 ngư i có quyền lợi, nghĩa v liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung v án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 gi 00 phút ngày 05/9/2018, Trần Sre Cao N điều khiển xe mô tô biển số 54P7-3343 đến phòng trọ của vợ ch ng bà K’B thu c khu phố A, phư ng H, thị xã B, tỉnh Bình Dương để chơi. Khi N đến nơi thì vợ ch ng bà K’B đi chợ nhưng không khóa cửa phòng nên N nảy sinh ý định lấy tài sản của vợ ch ng bà K’B. N lén vào phòng của bà K’B lấy tr m: 31.000.000 đ ng 01 dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,3 chỉ 01 kiềng đeo cổ trọng lượng 2 chỉ 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,7 chỉ 01 dây chuyền vàng 18K (loại dành cho trẻ em) trọng lượng 0,2 chỉ 02 vòng đeo tay vàng 18K (loại dành cho trẻ em) trọng lượng 0,4 chỉ 01 vòng đeo tay vàng 18K trọng lượng 4,2 chỉ 01 nhẫn đính đá màu đỏ vàng 18K trọng lượng 2,6 chỉ 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 1,31 chỉ. Sau khi lấy tr m được tài sản, N đem vàng đến bán cho m t tiệm vàng thành phố B, tỉnh Đ ng Nai (không nhớ địa chỉ) được số tiền 16.200.000 đ ng. Đối với 01 vòng đeo tay vàng 18K trọng lượng 4,2 chỉ N không bán. Sau đó, N điều xe mô tô biển số 54P7-3343 chạy về hướng phư ng T, Q A, Thành phố H Chí Minh.
Khoảng 09 gi 30 phút cùng ngày, vợ ch ng bà K’B đi chợ về phát hiện tài sản bị mất nên báo Công an phư ng T, Quận A, Thành phố H Chí Minh. Công an phư ng T chuyển v việc cho Công an thị xã B giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá ngày 10/9/2018 của H i đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thị xã B, kết luận: 01 dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,3 chỉ trị giá 6.011.280 đ ng 01 kiềng đeo cổ trọng lượng 2 chỉ trị giá 5.227.200 đ ng 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,7 chỉ trị giá 7.056.720 đ ng 01 dây chuyền vàng 18K (loại dành cho trẻ em) trọng lượng 0,2 chỉ trị giá 522.720 đ ng 02 vòng đeo tay vàng 18K (loại dành cho trẻ em) trọng lượng 0,4 chỉ trị giá 1.045.440 đ ng 01 vòng đeo tay vàng 18K trọng lượng 4,2 chỉ trị giá 10.977.120 đ ng 01 nhẫn đính đá màu đỏ vàng 18K trọng lượng 2,6 chỉ trị giá 6.795.360 đ ng 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 1,31 chỉ trị giá 3.423.816 đ ng. Tổng giá trị tài sản là 41.059.656 đ ng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Sre Cao N phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 173 điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của B luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Sre Cao N 04 (bốn) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2018.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18/01/2019, bị cáo Trần Sre Cao N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Xác định t i danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Trần Sre Cao N là có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức đ hành vi phạm t i và nhân thân của bị cáo. Đ ng th i, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ s chấp nhận.
Bị cáo Trần Sre Cao N nói l i sau cùng: Bị cáo mong H i đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s n i dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, H i đ ng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Sre Cao N được thực hiện trong th i hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Sre Cao N đã khai nhận hành vi phạm t i thống nhất như n i dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ. Do đó, có đủ cơ s xác định:
Vào lúc 09 gi 00 phút ngày 05/9/2018, lợi d ng lúc vợ ch ng bà K’B không có nhà và cửa phòng không khóa, bị cáo Trần Sre Cao N đã thực hiện hành vi lén lút vào phòng của vợ ch ng bà K’B lấy tr m số tiền 31.000.000 đ ng và 01 dây chuyền vàng 18k trọng lượng 2,3 chỉ 01 kiềng đeo cổ trọng lượng 2 chỉ 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 2,7 chỉ 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 0,2 chỉ 02 vòng đeo tay vàng 18K trọng lượng 0,4 chỉ 01 vòng đeo tay vàng 18K trọng lượng 4,2 chỉ 01 nhẫn đính đá màu đỏ vàng 18K trọng lượng 2,6 chỉ 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 1,31 chỉ (trị giá 41.059.656 đ ng). Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 72.059.656 đ ng.
Hành vi mà bị cáo Trần Sre Cao N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành t i “Tr m cắp tài sản” được quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi của bị cáo Trần Sre Cao N là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm trực tiếp đến quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ ảnh hư ng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của công dân là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì đ ng cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã bất chấp hậu quả, cố ý thực hiện hành vi phạm t i, thể hiện ý thức xem thư ng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm t i của mình theo quy định của pháp luật.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N về t i “Tr m cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Sre Cao N. H i đ ng xét xử xét thấy: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức đ hành vi phạm t i của bị cáo. Đ ng th i, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ s chấp nhận.
[5] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ s .
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Sre Cao N phải n p do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của B luật Tố t ng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Sre Cao N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 173 điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của B luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Sre Cao N 04 (bốn) năm tù về t i “Tr m cắp tài sản”. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2018.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng v Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Sre Cao N phải n p số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đ ng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương 1 - TAND thị xã B; 2 - VKSND thị xã B; 1 - Chi c c THADS thị xã B; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD 1 - Công an thị xã B; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương 1 1 - Trại Tạm giam – Công an tỉnh BD - Bị cáo 1 - Tổ Hành chính Tư pháp 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thạch |