- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Đặng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06-5-2019 Về việc Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆNTHUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đông,
2. Ông Hoàng Đắc Hân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 802/2018/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2018 về việc “Ly hôn, con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 4A, ngõ 474, Đ, quận H, thành phố H; vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Đặng Văn H; Nơi cư trú: Thôn 6, xã Đ, huyện T, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H trình bày: Chị kết hôn với anh Đặng Văn H trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố H vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau tại thôn 6, xã Đ, huyện T, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và cẳng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, anh H rượu chè về nhà vợ chồng thường hay xảy ra cãi mắng nhau, do mâu thuẫn nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2018, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm nhau. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đặng Văn H không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn H.
Về con chung: Chị và anh Đặng Văn H trình bày vợ chồng chị có 01 con chung tên Đặng Minh C, sinh ngày 24/8/2016, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Hoa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh H tự thỏa thuận giải quyết với nhau, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Đặng Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Đặng Văn H vẫn không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích H.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích H vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Đặng Văn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự. Về con chung và tài sản chung đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Giấy khai sinh của con Đặng Minh C; Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Bích H; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Đặng Văn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bích H và anh Đặng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, anh H rượu chè về nhà vợ chồng thường hay xảy ra cãi mắng nhau, do mâu thuẫn nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2018, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm nhau. Nay chị Nguyễn Thị Bích H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đặng Văn H không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh Đặng Văn H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Đặng Văn H đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích H. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện anh Đặng Văn H vẫn sinh sống và làm việc bình thường tại địa phương cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H đã kéo dài, không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích H, cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Đặng Văn H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bích H trình bày vợ chồng chị có 01 con chung tên Đặng Minh C, sinh ngày 24/8/2016, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị Hoa trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi con. Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện từ khi vợ chồng sống ly thân nhau đến nay, chị H là người trực tiếp nuôi, mặt khác con chung chị H và anh H dưới 36 tháng tuổi nên giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trong quá trình giải quyết vụ án anh Đặng Văn H không có ý kiến trình bày về con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con tên Đặng Minh Châu, sinh ngày 24/8/2016 cho chị Nguyễn Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bích H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Văn H chưa có ý kiến trình bày về cấp dưỡng nuôi con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Bích H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Văn Hòa chưa có ý kiến trình bày về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Đặng Văn H.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bích H trực tiếp nuôi con chung tên Đặng Minh C, sinh ngày 24/8/2016 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000082, ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Bích H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - UBND xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên,thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |