vanban.org

Bản án 63/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tuấn T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/9/2016 cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị Hoàng Y không có yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hoàng Y - Nguyễn Văn Tuấn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tuấn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 10-9-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Quang Nghĩa

Ông Phạm Đình Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm: 1995

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tuấn Tú, sinh năm: 1995

Địa chỉ: C, thị trấn D, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày: chị và anh Nguyễn Văn Tuấn T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân thị trấn D, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đây là kết hôn đầu của anh chị. Cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc và xảy ra nhiêu mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khi con chung được 7 tháng tuổi, gia đình hai bên của anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh T bỏ đi nơi khác, không quan tâm đến vợ con và không phụ giúp chị nuôi con. Gần đây, anh T về hàn gắn tình cảm với chị nhưng anh T không thật tâm và chị biết anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên chị không chấp nhận hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/9/2016. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Tuấn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoàng Y đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn anh Nguyễn Văn Tuấn T đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tuấn T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Tuấn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mă ăt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bô ă luâ ăt Tố tụng dân sự xét xử vắng mă ăt anh T là phù hợp.

Chị Nguyễn Thị Hoàng Y có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Nguyễn Văn Tuấn T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị Nguyễn Thị Hoàng Y khai cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc và xảy ra nhiêu mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khi con chung được 7 tháng tuổi, gia đình hai bên của anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh T bỏ đi nơi khác, không quan tâm đến vợ con và không phụ giúp chị nuôi con. Gần đây, anh T về hàn gắn tình cảm với chị nhưng anh T không thật tâm và chị biết anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên chị không chấp nhận hàn gắn tình cảm vợ chồng. Việc chị Y và anh T không còn sống chung với nhau là có, theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị M là mẹ ruột của anh Nguyễn Văn Tuấn T (bút lục 19) và được chính quyền địa phương xác nhận tại biên bản xác minh ngày 15/7/2019 (bút lục 23). Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị Y và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y là phù hợp với Điều 56 Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Y yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/9/2016. Xét thấy, hiện nay cháu H đang do chị Y nuôi dưỡng, cháu H còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nên giao cháu H cho chị Y nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Chị Y không yêu cầu anh Tú cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Y trình bày không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Y trình bày anh chị không có nợ chung. Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy, không giải quyết.

Về án phí: Chị Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tuấn T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/9/2016 cho chị Nguyễn Thị Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Thị Hoàng Y không có yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Chị Nguyễn Thị Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh Nguyễn Văn Tuấn T.

Anh Nguyễn Văn Tuấn T được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Nguyễn Thị Hoàng Y. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Nguyễn Văn Tuấn T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về nợ chung: không giải quyết.

5. Về án phí: chị Nguyễn Thị Hoàng Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Hoàng Y đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 007403 ngày 04/5/2019 được tính trừ vào án phí.

Chị Nguyễn Thị Hoàng Y và anh Nguyễn Văn Tuấn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ