- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Văn Dương-Trần Thanh Giữ"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D đối với ông Trần Nhựt N.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2019/DS-ST Ngày: 11-10-2019 V/v: “Tranh chấp tiền hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Đoàn Quốc Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 121/2019/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2019/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2019/QĐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp 13, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh G (vắng mặt)
Ông Trần Nhựt N (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: khóm 4, thị trấn U Minh, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 7 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn D trình bày:
Ông có mở một số dây hụi, ông Trần Nhựt N và ông Trần Thanh G có tham gia một số dây hụi do ông làm chủ. Nhưng sau khi hốt hụi thì ông N và ông G không đóng hụi chết cho ông.
Dây hụi mở ngày 16/7/2017 âm lịch loại hụi 3.000.000 đồng/tháng, tổng số 26 chưng. Ông N tham gia chơi 01 chưng và ông G tham gia chơi 01 chưng.
Ngày 16/9/2017 âm lịch ông Nhựt N kêu giá hốt 1.110.000 đồng. Ông đã giao cho ông N số tiền hụi như sau: chết 2 chưng x 3.000.000 đồng = 6.000.000 đồng, sống 23 chưng x 1.890.000 đồng = 43.470.000 đồng, tổng cộng 49.470.000 đồng, trừ cò 1.700.000 đồng, còn lại 47.770.000 đồng, ông đã giao tiền hụi cho ông N và ông N làm giấy nhận nợ cho ông. Hụi này ông N phải đóng cho ông 23 lần hụi chết là 69.000.000 đồng. Ông N đã đóng từ tháng 10/2017 âm lịch đến hết tháng 12/2018 âm lịch là 15 tháng. Từ tháng 01/2019 âm lịch đến tháng 8/2019 âm lịch mãn dây hụi là 08 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 24.000.000 đồng. Ông yêu cầu ông N trả cho ông số tiền hụi còn thiếu là 24.000.000 đồng.
Ngày 16/7/2017 âm lịch ông G kêu giá hốt 1.100.000 đồng. Ông đã giao cho ông G số tiền hụi như sau: sống 25 chưng x 1.900.000 đồng = 47.500.000 đồng, trừ cò 1.700.000 đồng, còn lại 45.800.000 đồng, ông đã giao tiền hụi cho Giữ và ông G có làm giấy nhận hụi. Hụi này ông G phải đóng cho ông 25 lần hụi chết là 75.000.000 đồng. Ông G đã đóng từ tháng 08/2017 âm lịch đến hết tháng 12/2018 âm lịch là 17 tháng. Từ tháng 01/2019 âm lịch đến tháng 8/2019 âm lịch mãn dây hụi là 08 tháng x 3.000.000 đồng/tháng = 24.000.000 đồng. Ông yêu cầu ông G trả cho ông số tiền hụi còn thiếu là 24.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ông thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, ông chỉ yêu cầu ông N trả cho ông số tiền hụi còn thiếu là 24.000.000 đồng, ông không yêu ông G trả số tiền hụi còn thiếu 24.000.000 đồng.
* Đối với ông Trần Thanh G, ông Trần Nhựt N, Tòa án nhân dân huyện U Minh đã niêm yết công khai hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng ông N, ông G vắng mặt không lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Lê Văn D khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh G, ông Trần Nhựt N trả tiền hụi. Xét đây là quan hệ tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp tiền hụi”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông G, ông N vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Gữ, ông N theo quy định.
. Về nội dung:
Tại phiên tòa ông Lê Văn D thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Nhựt N trả tiền hụi với số tiền 24.000.000 đồng, không yêu cầu ông Trần Thanh G trả tiền hụi còn thiếu 24.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của ông D không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, yêu cầu của ông D buộc ông N trả số tiền hụi còn thiếu 24.000.000 đồng là có căn cứ. Bỡi lẽ, việc ông N chơi hụi của ông D là có thật thể hiện tại Biên nhận nợ (không ghi ngày tháng năm) và tại Giấy giao hụi ngày 24/8/2017. Mặt khác, ông N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia hòa giải và xét xử nhưng ông N vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông D nên ông N phải gánh chịu mọi thiệt hại. Do đó Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông D về việc buộc ông Trần Nhựt N có trả số tiền 24.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ông D rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông G. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của ông D về việc yêu cầu ông G trả số tiền hụi 24.000.000 đồng.
Về án phí: Án phí dân sự có giá ngạch ông Trần Nhựt N phải chịu 1.200.000 đồng. Ông Lê Văn D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 244; Điều 468; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án.
Áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn D đối với ông Trần Nhựt N.
Buộc ông Trần Nhựt N trả cho ông Lê Văn D số tiền 24.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Lê Văn D về việc yêu cầu ông Trần Thanh G trả số tiền hụi 24.000.000 đồng.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trần Nhựt N phải chịu 1.200.000 đồng. Ông Lê Văn D đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 1.200.000 đồng theo biên lai số 0004507, ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp lực.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, ông Lê Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Nhựt N, ông Trần Thanh G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Hận |