- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thanh Sơn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2018/HS-ST Ngày: 15/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thông Thái – Phó Giám đốc Bệnh viện huyện Tuy Phong
Bà Nguyễn Thị Bích Lam – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên, Thư ký tòa án huyện Tuy Phong
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2018/HSST, ngày 17/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/HSST-QĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thanh S (tên gọi khác: S Mã Lạng), Giới tính: Nam; sinh: 1975, Nơi sinh: tỉnh Th; nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn C, huyện P, tỉnh Th; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không ; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Tiền án, tiền sự: không; Cha: Ngô Nh (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1942 hiện ở khu phố Giang Hải 2, thị trấn C, huyện P, tỉnh Th; Anh, chị, em ruột: có 6 người (Lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1977); Vợ: Võ Thị Minh Hằng, sinh năm 1975 hiện ở khu phố 3, thị trấn C, huyện P, tỉnh Th; Con: 03 người (Lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005); Bị can bị bắt tạm giam ngày 17.5.2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện P, có mặt;
- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh 1942; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố Giang Hải 2, thị trấn C, huyện P, tỉnh Th, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14.01.2018 Ngô Thanh S đang ở nhà của Nguyễn Thị H (mẹ ruột của S) ở khu phố Giang Hải 2, thị trấn C, huyện P, S phát hiện mẹ (bà H) đi vắng khỏi nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của mẹ để tiêu xài cá nhân. S nhìn thấy cửa phòng ngủ của mẹ đã khóa nên đi đến bếp lấy 01 con dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi bằng, dài khoảng 38 cm, mặt lưỡi rộng 7,5cm đi đến cạy bung khoen khóa cửa phòng ngủ. S đi vào bên trong phòng ngủ lấy chùm chìa khóa của H để dưới tấm nệm mở khóa tủ gổ đựng đồ cá nhân của mẹ thì thấy 02 miếng vàng SJC hình chữ nhật trọng lượng mỗi miếng một lượng. S lấy 01 miếng vàng đưa đến tiệm vàng Tín Thạnh ở 08 đường Quang Trung, thị trấn C, huyện P gặp Trần Háu (chủ tiệm vàng) để bán. S đưa 01 miếng vàng vừa trộm cắp được cho Háu xem, Háu kiểm tra miếng vàng và hỏi S: “bán làm gì vậy”, S nói: “em bán đi Sài Gòn làm ăn”, Háu không biết miếng vàng trọng lượng 01 lượng S bán là do trộm cắp mà có nên đồng ý mua và đưa cho S 36.500.000 đồng. Sau đó, Háu đưa miếng vàng trọng lượng 01 lượng đi vào tiệm vàng ở thành phố Hồ Chí Minh bán lại cho người khác. Sau khi sự việc xảy ra, mẹ S đã trình báo toàn bộ sự việc cho Công an thị trấn C. Đến ngày 28.03.2018 Ngô Thanh S tự nguyện giao nộp 01 con dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi bằng, dài khoảng 38 cm, mặt lưỡi rộng 7,5cm cho Cơ quan quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐDG ngày 18.4.2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Vàng miếng SJC có trọng lượng 01 lượng/miếng trị giá: 36.960.000 đồng/lượng x 01 lượng = 36.960.000 đồng
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số Số: 56/CT-VKS-TP, ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh S mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 con dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi bằng, dài khoảng 38cm, mặt lưỡi rộng 7,5cm cho Nguyễn Thị H đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Nguyễn Thị H đã cho giá trị 01 lượng vàng bị mất không thu hồi được cho bị cáo S và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân dân huyện P: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Ngô Thanh S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-TP, ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận từ vào khoảng 12 giờ ngày 14.01.2018, bị cáo Ngô Thanh S phát hiện bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của bị cáo) đi vắng khỏi nhà nên đã lén lút lấy 01 con dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi bằng, dài khoảng 38 cm, mặt lưỡi rộng 7,5cm tại nhà bếp đi đến dùng dao cạy bung khoen khóa cửa phòng ngủ vào trong nhà lụt soát đồ của mẹ bị cáo và dùng chìa khóa mở tủ đựng vật dụng của mẹ mình thấy 02 miếng vàng SJC hình chữ nhật trọng lượng mỗi miếng một lượng, bị cáo S lấy 01 miếng sau đó mang đi bán và lấy tiền tiêu xài cá nhân, với trị giá tài sản là 36.960.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, chín trăm sáu chục ngàn đồng).
Vì vậy, Cáo trạng số 56/QĐ/KSĐT/VKS-HS, ngày 17.7.2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Ngô Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Ngô Thanh S là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nhưng không do sức lao động của bản thân làm ra, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị H mẹ mình 01 lượng vàng SJC với tổng trị giá tài sản là 36.960.000đồng (Ba mươi sáu triệu, chín trăm sáu chục ngàn đồng). Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp, với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm hại tới quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải tuyên phạt bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo dục và tuyên truyền phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Ngô Thanh S thực hiện hành vi đối với người cao tuổi (người đủ 70 tuổi trở lên) đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo S đã thành khẩn khai báo, với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tội, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa người bị hại bà H là mẹ ruột của bị cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhận thân không tốt và bị cáo đã thừa nhận mình nghiện ma túy từ nhiều năm nay, đã có gia đình con cái nhưng không lo chú tâm làm ăn, nhiều lần đòi tiền của mẹ để hút chích, nếu tiếp tục cho bị cáo cải tạo bên ngoài xã hội thì bị cáo có thể phạm tội lại do tác hại từ nghiện ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội.
[5] Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện P:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thanh S mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh , còn về áp dụng pháp luật, mức hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhưng đề nghị xử phạt bị cáo có phần nghiêm khắc. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 con dao phay, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu đen, mũi bằng, dài khoảng 38cm, mặt lưỡi rộng 7,5cm cho Nguyễn Thị H theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Nguyễn Thị H đã cho giá trị 01 lượng vàng bị mất không thu hồi được cho bị cáo S và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thanh S 09 ( chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 17.5.2018).
[2] Về án phí: Bị cáo S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy đinh tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, người bị hại báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện P; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an huyện P; - Bị cáo, bị hại; - Chi cục THADS huyện P; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Văn Lấy |